Connect with us

Quốc Tế

‘Cú sốc Trung Quốc’ khiến thế giới đau đầu: Sản xuất ồ ạt bất chấp khả năng hấp thụ, giá đã rẻ đến mức chiết khẩu 70%

Published

on

Vincent Xue điều hành một doanh nghiệp bán lẻ thực phẩm trực tuyến, chuyên cung cấp nông sản tươi, thực phẩm đóng hộp, nguyên liệu dễ nấu đóng gói cho người tiêu dùng địa phương tại Singapore.

Webuy Global được niêm yết trên Nasdaq của Xue chủ yếu lấy nguồn từ các nhà cung cấp tại Trung Quốc. Từ cuối năm ngoái, 30% các nhà cung cấp này, vốn đang phải gánh chịu tình trạng tồn kho dư thừa tại Trung Quốc, đã đưa ra mức chiết khấu lớn lên tới 70%.

“Thị trường nội địa Trung Quốc quá cạnh tranh, một số nhà sản xuất F&B lớn hơn đang phải vật lộn để giải phóng hàng tồn kho khi nhu cầu tiêu dùng yếu kém kéo dài”, ông nói với CNBC và cho biết doanh nghiệp mình đã ký kết quan hệ đối tác với nền tảng thương mại điện tử Trung Quốc Pinduoduo.

“Sẽ có khoảng 5-6 container chứa đầy đơn hàng của Pinduoduo đến mỗi tuần”, Xue cho biết. Webuy Global sẽ hỗ trợ giao hàng chặng cuối cho khách hàng.

Vào thời điểm thuế quan cao đang cản trở xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ, trong khi tiêu dùng trong nước vẫn là mối lo ngại, tình trạng dư thừa công suất đã khiến giá sản xuất của Trung Quốc duy trì ở mức giảm phát trong hơn 2 năm. Lạm phát tiêu dùng vẫn gần bằng 0.

Tuy nhiên, quốc gia này đang tăng gấp đôi sản xuất và tình trạng dư thừa quá mức đã lan rộng khắp các thị trường toàn cầu. Lo ngại xuất hiện, rằng một làn sóng nhập khẩu giá rẻ có thể gây sức ép lên các ngành công nghiệp địa phương.

“Mọi nền kinh tế trên thế giới đều lo ngại về việc bị hàng xuất khẩu của Trung Quốc nuốt chửng. Nhiều nền kinh tế trong số đó đã bắt đầu dựng lên các rào cản đối với việc nhập khẩu từ Trung Quốc”, Eswar Prasad, giáo sư cao cấp về chính sách thương mại và kinh tế tại Đại học Cornell cho biết.

Năm 2023, xuất khẩu hàng hóa Trung Quốc sang các nước đang phát triển tăng gần 20%, trong khi các nước này cũng đang cố gắng phát triển ngành công nghiệp nội địa. Hệ quả là nguy cơ thất nghiệp, đóng cửa nhà máy và phụ thuộc ngày càng lớn vào hàng Trung Quốc.

Điều trớ trêu là dù nhiều quốc gia tìm cách “thoát Trung” bằng chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng, nhưng sự hiện diện áp đảo của hàng giá rẻ từ Trung Quốc khiến lựa chọn thay thế gần như không khả thi với người tiêu dùng bình dân. Đối với các nền kinh tế đang bị lạm phát làm cho kiệt quệ, các nhà kinh tế cho biết sự tràn ngập của hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc đi kèm với một tia hy vọng: chi phí thấp hơn cho người tiêu dùng. Điều này mang lại cho các ngân hàng trung ương sự nhẹ nhõm đôi chút khi cố gắng xoay xở giảm chi phí sinh hoạt.

Hơn nữa, đối với các thị trường có cơ sở sản xuất hạn chế, chẳng hạn như Úc, hàng nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc cũng có thể làm dịu cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt và giúp giảm áp lực lạm phát, theo Nick Marro, nhà kinh tế chính tại Economist Intelligence Unit. Ông cho rằng rủi ro tăng trưởng mới nổi và lạm phát được kiềm chế có thể mở đường cho nhiều đợt cắt giảm lãi suất hơn nữa trên khắp châu Á.

'Cú sốc Trung Quốc' khiến thế giới đau đầu: Sản xuất ồ ạt bất chấp khả năng hấp thụ, giá đã rẻ đến mức chiết khẩu 70%- Ảnh 1.
‘Cú sốc Trung Quốc’

Tại Singapore, chi phí sinh hoạt tăng là một trong những vấn đề nóng hổi trong chiến dịch tranh cử. Tuy nhiên, lạm phát cơ bản có thể ở mức thấp hơn, nếu xét tới tác động của dòng hàng nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc.

Các nhà kinh tế của Nomura cho biết thêm: “Các lực lượng giảm phát có khả năng lan rộng khắp châu Á”, dự đoán các quốc gia châu Á sẽ cảm nhận được tác động từ “cú sốc Trung Quốc” vốn đang tăng tốc.

Các nền kinh tế châu Á vốn đã cảnh giác với công suất dư thừa của Trung Quốc. Một số nơi đã áp dụng thuế chống bán phá giá để bảo vệ sản xuất sản xuất trong nước, thậm chí trước cả khi Tổng thống Mỹ Donald Trump áp dụng thuế quan toàn diện.

Vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, nền kinh tế thế giới đã trải qua cái gọi là “cú sốc Trung Quốc”, khi sự gia tăng hàng nhập khẩu giá rẻ do Trung Quốc sản xuất giúp duy trì lạm phát ở mức thấp, song lại khiến ngành sản xuất trong nước khó khăn. Theo số liệu hải quan chính thức, xuất khẩu của Trung Quốc sang khối ASEAN đã tăng 11,5% so với cùng kỳ năm ngoái trong 4 tháng đầu năm nay, trong khi các chuyến hàng đến Mỹ giảm 2,5%. Chỉ riêng trong tháng 4, các chuyến hàng của Trung Quốc đến ASEAN đã tăng vọt 20,8%, trong khi xuất khẩu sang Mỹ giảm hơn 21% so với cùng kỳ năm ngoái.

Lý do Trung Quốc tiếp tục sản xuất ồ ạt căn bản nằm ở cấu trúc kinh tế và hệ thống khuyến khích. Chính quyền địa phương tại các tỉnh thành vẫn phụ thuộc vào GDP và sản lượng công nghiệp để đánh giá thành tích. Các doanh nghiệp quốc doanh, dù không hiệu quả, vẫn tiếp tục được hỗ trợ vốn, đất đai và trợ cấp để duy trì hoạt động sản xuất.

Chỉ riêng ngành xe điện – một biểu tượng mới của công nghiệp Trung Quốc – đã chứng kiến hơn 200 công ty nội địa tham gia cuộc đua. Nhiều hãng như BYD, Nio, hoặc các nhà sản xuất ít tên tuổi hơn liên tục tung ra sản phẩm mới, hạ giá bán để cạnh tranh thị phần. Việc thị trường nội địa không thể hấp thụ hết khiến ô tô điện Trung Quốc tràn ngập các cảng châu Âu, nằm đắp chiếu chờ tiêu thụ.

Các nhà kinh tế tại Goldman Sachs ước tính các sản phẩm Trung Quốc mà Nhật Bản nhập khẩu trong 2 năm qua đã rẻ hơn khoảng 15% so với các sản phẩm từ các quốc gia khác. Ấn Độ, Việt Nam và Indonesia đã áp dụng nhiều biện pháp bảo hộ khác nhau để giảm bớt sự cạnh tranh gay gắt về giá, đặc biệt là trong các lĩnh vực nhạy cảm với tình trạng dư thừa.

Các nhà kinh tế của Nomura dự đoán Thái Lan có thể sẽ là nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi “cú sốc Trung Quốc”, thậm chí rơi vào tình trạng giảm phát trong năm nay. Ấn Độ, Indonesia và Philippines cũng sẽ có thể chứng kiến tình trạng lạm phát giảm xuống dưới mục tiêu của các ngân hàng trung ương.

TheoCNBC, SCMP

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Quốc Tế

Ăn nên làm ra khi người tiêu dùng tiết kiệm chi tiêu

Published

on

Doanh thu và lợi nhuận quý trước của Walmart đều tăng, trong bối cảnh người Mỹ đối mặt với giá cả đi lên do lạm phát, thuế nhập khẩu. Xu hướng ăn nên làm ra khi người tiêu dùng tiết kiệm chi tiêu.

Ngày 20/11, hãng bán lẻ lớn nhất thế giới Walmart công bố kết quả kinh doanh quý III. Theo đó, lợi nhuận của hãng tăng 34% lên 6,1 tỷ USD. Doanh thu tại các cửa hàng mở từ 1 năm trở lên tại Mỹ tăng 4,5%.

Thương mại điện tử cũng là một điểm sáng với Walmart, khi doanh thu toàn cầu tăng 27%. Công ty này cũng nâng dự báo doanh thu và lợi nhuận quý cuối năm.

Tại Mỹ, ngày càng nhiều người quan tâm đến khả năng chi trả khi họ vật lộn với giá cả đi lên do lạm phát và thuế nhập khẩu. Bức tranh việc làm không rõ ràng càng làm tăng lo ngại của người tiêu dùng. Dù các doanh nghiệp tạo thêm 119.000 việc làm trong tháng 9, tỷ lệ thất nghiệp lại nhích lên 4,4%. Việc chính phủ Mỹ đóng cửa 43 ngày, ảnh hưởng đến thu nhập của nhiều nhân viên liên bang, cũng khiến người dân phải tìm hàng hóa giá rẻ hơn.

Walmart đang hưởng lợi từ tâm lý này. Họ tận dụng lợi thế về quy mô khổng lồ để hạ giá sản phẩm, đồng thời rót thêm hàng tỷ USD cho việc nâng lương, cải tạo cửa hàng và xây dựng hệ thống logistics cho bán hàng online. Những nỗ lực này đã phát huy hiệu quả trong bối cảnh túi tiền của nhiều người Mỹ co lại.

“Chúng tôi đang tăng thị phần, cải thiện tốc độ giao hàng và quản lý hàng tồn kho tốt. Nhìn chung, chúng tôi đang có vị thế tốt để có kết quả quý cuối năm vững mạnh”, CEO Walmart Doug McMillon cho biết trong thông báo.

Walmart đang có lợi thế lớn so với đối thủ Target, nhất là mảng tạp hóa. Khách hàng thường xuyên ghé Walmart để mua thực phẩm. Vì thế, họ đã ưu tiên nâng chất lượng hàng tươi sống những năm gần đây. Hãng cũng thu hẹp khoảng cách với Target về thời trang và đồ gia dụng.

Trong bối cảnh phải thắt chặt chi tiêu, ngày càng nhiều người chọn Walmart thay vì Target, kể cả tầng lớp thu nhập trung bình và trung bình cao. Hãng cũng đang thu hút nhóm khách hàng thu nhập thấp từ các chuỗi bán hàng giảm giá như Dollar General.

Tình hình kinh doanh của Walmart thường được coi là chỉ báo cho hoạt động tiêu dùng tại Mỹ. Mỗi tuần, 255 triệu người mua sắm tại các cửa hàng hoặc đặt hàng trực tuyến từ hãng bán lẻ này trên toàn cầu. 90% dân số Mỹ sống trong phạm vi 16 km tính từ cửa hàng Walmart gần nhất. Hãng vốn nổi tiếng với khả năng kiểm soát chi phí quyết liệt hơn các công ty khác nhằm giữ giá thấp.

Ver2Solution theo CNN, CNBC

Continue Reading

Quốc Tế

Black Friday kỳ lạ ở Mỹ

Published

on

Các cửa hàng tại Mỹ lo lắng về biên lợi nhuận nếu giảm giá hàng hóa dịp Black Friday, trong bối cảnh thuế quan đang bào mòn hoạt động kinh doanh, một Black Friday kỳ lạ ở Mỹ.

Những năm trước, cửa hàng Yun Hai Taiwanese Pantry ở New York, Mỹ giảm giá 15% vào ngày Black Friday, xem chương trình khuyến mãi thường niên này là “một phần không thể thiếu”.

Tuy nhiên năm nay, nhà sáng lập Lisa Cheng Smith chia sẻ với CBS News rằng bà không chắc có thể giảm giá bao nhiêu do chi phí hoạt động đã bị đội lên cao dưới áp lực của thuế quan.

Nhà bán lẻ này chuyên nhập khẩu hàng hóa từ Đài Loan (Trung Quốc). Khi thuế quan của Mỹ đối với các sản phẩm từ Đài Loan và các thị trường châu Á khác tăng lên, chi phí của Yun Hai đã tăng 20-50% so với cùng kỳ năm ngoái.

“Liệu chúng tôi có nên khuyến mãi ít hơn để duy trì biên lợi nhuận, hay vẫn áp dụng mức khuyến mãi mà khách hàng mong đợi?”, Lisa Cheng Smith trăn trở.

Thực tế, đối với các chủ doanh nghiệp nhỏ như bà, quyết định tưởng nhỏ này có thể tạo nên sự khác biệt lớn. “Kết quả kinh doanh từ tháng 10 đến tháng 12 tương đương với doanh số cả năm, vì vậy quyết định vào mùa lễ này càng có rủi ro cao hơn”, bà nói.

Các chuyên gia bán lẻ cũng đồng ý rằng mức giảm giá vào dịp Black Friday năm nay có thể thấp hơn khi các nhà bán lẻ và doanh nghiệp sản xuất chịu ảnh hưởng bởi chi phí thuế quan.

“Đương nhiên sẽ có giảm giá và khuyến mãi vì đó là ý nghĩa của ngày Black Friday. Rất ít nhà bán lẻ muốn bỏ lỡ dịp này, nhưng tôi nghĩ họ sẽ chọn lọc hơn trong việc giảm giá”, Neil Saunders, Giám đốc điều hành kiêm nhà phân tích bán lẻ tại GlobalData, nói với CBS News.

Dan Peskorse, chủ sở hữu Upstream Brands, doanh nghiệp kinh doanh nhiều loại hàng hóa trên Amazon và các trang thương mại điện tử khác, cũng cho biết chi phí thuế quan tăng cao buộc ông phải xem xét lại chiến lược Black Friday năm nay.

Peskorse chia sẻ rằng đối với các ngày Black Friday trước đây, Upstream Brands thường giảm giá tới 30% cho các sản phẩm của các thương hiệu chủ lực như ThinkFit (túi và hộp đựng đồ ăn) và Ash Harbor (đồ gia dụng).

“Đây là năm đầu tiên chúng tôi không giảm giá toàn bộ sản phẩm”, ông nói, đồng thời lưu ý rằng quyết định này hoàn toàn là do thuế quan.

Peskorse đã thực hiện nhiều biện pháp để giảm thiểu tác động của thuế quan, nhưng ông cho rằng cách hữu hiệu duy nhất để kiểm soát chi phí và bảo toàn lợi nhuận là loại bỏ các chương trình giảm giá.

Theo nhà kinh tế trưởng Gregory Daco của EY-Parthenon, mức thuế quan trung bình của Mỹ đã tăng gấp 7 lần trong năm nay và chạm mốc 16,6%. Ông lưu ý rằng mức thuế cao hơn này đang đẩy giá hàng nhập khẩu lên cao khi các nhà bán lẻ chuyển một phần chi phí sang người mua sắm.

Black Friday anh 1
Biểu đồ: CBS News.

Bên cạnh áp lực thuế quan, nhiều doanh nghiệp cũng đang phải vật lộn với tình trạng người tiêu dùng thu nhập thấp thắt chặt chi tiêu.

“Tôi nghĩ rằng tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn khi chúng ta bước vào mùa mua sắm sắp tới”, Sonia Lapinsky, nhà phân tích bán lẻ tại công ty tư vấn quản lý AlixPartners, cho biết. “Dữ liệu cho thấy người tiêu dùng đang giảm chi tiêu cho kỳ nghỉ lễ năm nay. Thay vào đó, họ giữ tiền và đầu tư vào những khoản thiết yếu”.

Bà nói thêm rằng giảm giá là một công cụ mạnh mẽ để khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu.

“Đó là cách duy nhất các nhà bán lẻ có thể thu hút người tiêu dùng, bởi họ không thể cưỡng lại sức hút của việc săn sale”, Lapinsky nói. “Vì vậy, đây sẽ là một mùa kinh doanh kỳ lạ. Nếu các nhà bán lẻ làm sai, họ sẽ đánh mất cơ hội bán hàng lớn nhất trong năm”.

Ver2Solution theo Znews

Continue Reading

Quốc Tế

Làn sóng sa thải tấn công gen Z

Published

on

Năm 2025 tưởng chừng yên ả với xu hướng “án binh bất động”, nhưng các đợt sa thải từ tập đoàn lớn đang giáng mạnh vào Gen Z, khiến nhóm này thiệt hại thu nhập và kéo giảm tiêu dùng toàn thị trường, làn sóng sa thải tấn công gen Z.

Trong năm 2024 và phần lớn năm 2025, “no hire, no fire” (không tuyển dụng, không sa thải) là cụm từ được giới nhân sự và tài chính dùng để mô tả trạng thái “đóng băng” kỳ lạ của thị trường lao động. Đó là một thế cân bằng mong manh: Doanh nghiệp không mở rộng tuyển mới, nhưng cũng ngại sa thải vì sợ thiếu người khi kinh tế hồi phục.

Tuy nhiên, sự bình yên giả tạo đó đang bị xé toạc vào những tháng cuối năm. Hàng loạt thông báo cắt giảm nhân sự từ các “gã khổng lồ” như Amazon, UPS hay Target đang phát đi tín hiệu đáng báo động: Thời kỳ an toàn đã kết thúc, và chúng ta đang chuyển sang giai đoạn khắc nghiệt hơn: Không tuyển, nhưng bắt đầu đuổi.

Khi “bức tường lửa” rạn vỡ

Heather Long, chuyên gia kinh tế trưởng tại Navy Federal Credit Union, đã đưa ra một nhận định khiến nhiều người phải giật mình: “Mọi dấu hiệu đều cho thấy thị trường đang chuyển trạng thái. Chúng ta không còn ở giai đoạn giữ nguyên hiện trạng nữa.”

Minh chứng rõ nhất đến từ những con số biết nói. Theo hãng tư vấn Challenger, Gray & Christmas, tháng 10 vừa qua là tháng tồi tệ nhất về số lượng kế hoạch cắt giảm nhân sự được công bố kể từ năm 2003 (loại trừ giai đoạn đại dịch).

Cụ thể, Amazon vừa công bố kế hoạch sa thải 14.000 nhân viên với lý do tái cấu trúc để tập trung vào trí tuệ nhân tạo (AI). Cùng lúc đó, UPS thông báo giảm tới 48.000 nhân sự so với cùng kỳ năm trước. Target và Paramount Skydance cũng không đứng ngoài cuộc chơi “thắt lưng buộc bụng” này.

John Challenger, CEO của Challenger, Gray & Christmas, nhận định thẳng thắn: “Không còn nghi ngờ gì nữa, bức tranh đã thay đổi. Giai đoạn an toàn đã là quá khứ. Đây là những đợt sa thải lớn, loại hình chỉ xuất hiện khi nền kinh tế thực sự có biến động cấu trúc.”

Điều khiến các chuyên gia lo ngại không chỉ là số người bị sa thải tăng lên, mà là cánh cửa tìm việc mới gần như bị đóng chặt.

Giáo sư kinh tế Robert Shimer (Đại học Chicago) chỉ ra rằng, thị trường lao động đang “tăng trưởng rất chậm hoặc đi ngang”. Tỷ lệ tuyển dụng (hiring rate) đã giảm mạnh từ năm 2022 và hiện chỉ còn khoảng 3,2% – mức thấp tương đương thời kỳ khủng hoảng COVID-19.

Tại sao điều này lại nguy hiểm? Bởi vì trong một nền kinh tế khỏe mạnh, sự biến động là cần thiết. Người lao động nhảy việc để tăng thu nhập, doanh nghiệp tuyển mới để mở rộng. Nhưng hiện nay, dòng chảy đó đã tắc nghẽn.

Thống đốc Fed Chris Waller chia sẻ sự lo ngại: “Cách đây vài tuần, người ta nói về việc giữ quân. Giờ đây, họ bắt đầu nói về sa thải. Có thể do AI, có thể do chi phí, nhưng dù lý do là gì, sự cân bằng đã mất”.

Gen Z – nạn nhân lớn nhất của “thế hệ mắc kẹt”

Nếu những nhân sự cấp cao lo lắng về việc mất ghế, thì gen Z (nhóm lao động từ 13-28 tuổi) lại đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng hiện sinh: Không thể bước chân vào thị trường.

Đối với người lao động trẻ chưa có tài sản tích lũy, thị trường lao động là tất cả. Khi thị trường đóng băng, họ mất đi cơ hội gia nhập, mất đi cơ hội nhảy việc để tăng lương và tích lũy kỹ năng.

Oxford Economics vừa đưa ra một chẩn đoán chính thức và đau lòng: “Thế hệ trẻ không ổn”.

Báo cáo phân tích cho thấy, trong bối cảnh các doanh nghiệp đóng cửa tuyển dụng, người trẻ thiếu kinh nghiệm là nhóm bị tổn thương nặng nề nhất. Tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm 16-19 tuổi đã vọt lên 14%, và nhóm 19-24 tuổi là 9% – cao hơn nhiều mức trung bình quốc gia.

Grace Zwemmer, chuyên gia kinh tế tại Oxford Economics, giải thích: “Người lao động trẻ thường hưởng lợi từ việc nhảy việc để tăng lương và thăng tiến nhanh ở giai đoạn đầu sự nghiệp. Nhưng chu kỳ này đã bị phá vỡ. Họ không thể nhảy việc, không được tăng lương, và tệ hơn là không tìm được việc làm đầu đời”.

Hệ quả là một hiện tượng xã hội đáng buồn: Gen Z buộc phải sống dựa vào cha mẹ lâu hơn. Ước tính có khoảng 1 triệu người trẻ tại Mỹ đang sống cùng gia đình so với xu hướng trước đại dịch. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến lòng tự trọng của họ mà còn giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế: Khoảng 12 tỷ USD tiêu dùng đã “bốc hơi” mỗi năm do nhóm này không chi tiêu cho nhà ở, nội thất và các dịch vụ đi kèm.

Nguyên nhân của làn sóng sa thải và đóng băng tuyển dụng lần này có sự khác biệt so với các cuộc suy thoái trước.

Thứ nhất là sự trỗi dậy của AI. Như trường hợp của Amazon, đầu tư vào AI giúp họ tối ưu hóa vận hành và giảm phụ thuộc vào nhân sự con người. Theo Indeed, khoảng 25% nhân viên công nghệ cho biết họ mất việc hoặc bị ảnh hưởng trực tiếp bởi AI trong 2 năm qua.

Thứ hai là áp lực chi phí và thay đổi chuỗi cung ứng. UPS chịu ảnh hưởng từ việc Amazon tự xây dựng đội giao hàng và các biến động thuế quan. Carter’s – hãng thời trang trẻ em – cũng phải đóng cửa 150 cửa hàng do chi phí nhập khẩu tăng cao.

Lời khuyên cho người lao động: Phòng thủ là thượng sách

Dù tỷ lệ thất nghiệp tổng thể vẫn ở mức thấp theo tiêu chuẩn lịch sử (khoảng 4,3%), nhưng cảm nhận thực tế của người lao động lại rất khác. Khảo sát của CBS News cho thấy 52% người Mỹ đánh giá thị trường lao động hiện tại là “tệ”.

Với bối cảnh “cửa vào hẹp, cửa ra rộng” như hiện nay, các chuyên gia tài chính khuyên rằng:

Với nhân sự đang có việc: Đây không phải thời điểm lý tưởng để “nhảy việc” trừ khi bạn có một lời mời chắc chắn trong tay. Sự an toàn nên được đặt lên hàng đầu.

Với gen Z và người tìm việc: Hãy chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến dài hơi. Cần linh hoạt chấp nhận các công việc tạm thời hoặc trái ngành để duy trì dòng tiền và tích lũy kỹ năng, thay vì chờ đợi một vị trí “trong mơ” vốn đang ngày càng khan hiếm.

Thị trường lao động đang nứt vỡ, và cho đến khi những mảnh ghép được sắp xếp lại, có thể là cuối năm 2025, sự thận trọng chính là “tấm khiên” tốt nhất cho túi tiền và sự nghiệp của mỗi người.

Ver2Solution theo Fortune.com

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .