Với một bộ phận Gen Z và thế hệ Millennials Trung Quốc, khởi nghiệp không hẳn bắt đầu từ một ý tưởng kinh doanh lớn. Một số người lựa chọn con đường này sau khi bị sa thải khỏi các công ty công nghệ lớn; những người khác muốn thoát khỏi môi trường làm việc có cường độ cao.
Social
Giải mã những cơn phẫn nộ tập thể trên Facebook, dưới góc nhìn xã hội học
Giải mã những cơn phẫn nộ tập thể trên Facebook: 1 phẫn nộ bằng 5 lượt thích, Facebook rất thích bạn phẫn nộ.
Những ngày này trên Facebook, thi thoảng, chúng ta lại thấy một làn sóng những người đổ dồn vào trang cá nhân của ai đó. Họ thả icon “phẫn nộ” trên tất cả các dòng trạng thái, các tấm ảnh và cả nội dung của người khác nhưng chủ nhân trang đó được gắn thẻ.
Nhân vật nổi tiếng thì bị kêu gọi tẩy chay. Những người không nổi tiếng thì bị lên án. Nhưng câu chuyện của họ đều được “viral” (lan truyền) trên tất cả các hội nhóm, nhảy sang cả nền tảng mạng xã hội khác và xuất hiện trên mặt báo.
Sức mạnh của những làn sóng phẫn nộ này là thứ không thể bị xem thường. Quay trở lại 10 năm trước, không ai có thể tưởng tượng được Facebook sẽ trở thành một miền đất như vậy.
Bởi thế, nhiều người đã vô tư phát ngôn mọi thứ, từ góc nhìn cá nhân cho tới quan điểm chính trị, không biết rằng 10 năm sau, chính những phát ngôn này sẽ bị lục lại và biến họ trở thành nạn nhân của những làn sóng phẫn nộ.
Ảnh minh họa.
Nhìn vào lịch sử của Facebook, icon “phẫn nộ” chỉ được Facebook giới thiệu từ năm 2015, bên cạnh nút “thích” vốn đã tồn tại từ năm 2010, và các biểu tượng cảm xúc mới khác là “trái tim”, “haha”, “wow”, “buồn” và “yay”.
“Yay” sau này bị khai tử vì nó là tiếng lóng của “cacaine”. Facebook đã thử nghiệm một số biểu tượng cảm xúc mới khác trước khi thay thế nó bằng “thương thương”, hình một icon ôm trái tim nhỏ.
Ra mắt vào năm 2020, đúng mùa dịch COVID-19, icon “thương thương” đã tạo nên một cơn sốt vì sự đáng yêu của nó. Người người, nhà nhà mong chờ bản cập nhật mới, để có thể thả “thương thương”, để có thể trao đi những cái ôm online trong mùa dịch.
Nhưng thời gian cuối cùng đã chứng minh, sức hút của những cái ôm yêu thương chỉ là nhất thời. Thay vào đó, “phẫn nộ” mới là biểu tượng trường tồn nhất của Facebook, đằng sau nút “thích” của họ.
Bởi như một định lý trên mạng xã hội, mọi người sẽ không bao giờ ngừng phẫn nộ.
Điều gì khiến chúng ta phẫn nộ?
Có một sự thật là không phải chờ đến năm 2016, khi Facebook giới thiệu biểu tượng cảm xúc mới trên nền tảng của họ, loài người mới biết phẫn nộ.
Các nhà tâm lý học định nghĩa “phẫn nộ” là một sự tức giận dữ hội không thể kiểm soát. Và họ cho rằng cảm xúc này xuất phát từ một khái niệm chuyên môn gọi là “ác cảm với bất công”.
Đúng vậy, loài người chúng ta phẫn nộ khi nhìn thấy sự bất công và chúng ta bắt đầu nhận biết được thứ gì đó là bất công ngay từ năm 3 tuổi.
Cảm xúc “phẫn nộ” được Facebook giới thiệu từ năm 2015,
Hiểu một cách đơn giản, bất công xảy ra khi bạn đầu tư cùng một lượng công sức so với người khác, nhưng lại nhận được ít phần thưởng hơn người đó. Hoặc khi các phần thưởng trả về cho tỷ lệ cống hiến của mỗi người không tương xứng với công sức mà họ bỏ ra.
Hai người tiền sử cùng đi săn một đàn hươu nhưng một người lại nhận được nhiều thịt hươu hơn. Hai đứa trẻ cùng học một lớp nhưng một đứa trẻ lại nhận được nhiều kẹo hơn. Hai nghệ sĩ có tài năng nhưng người có thái độ xấu hơn cuối cùng lại nổi tiếng hơn…
Đó là những ví dụ cho những sự bất công tồn tại từ thời tiền sử cho tới tận bây giờ. Nhưng các nhà tâm lý học cho rằng “ác cảm với bất công” còn có tuổi đời lâu hơn thế. Cụ thể, các thí nghiệm trên khỉ, chó và chim cho thấy những loài động vật này cũng biết phẫn nộ.
Frans de Waal, nhà linh trưởng học người Mỹ gốc Hà Lan từng giới thiệu một thí nghiệm kinh điển chứng minh cho dạng thức đơn giản nhất của sự phẫn nộ trên động vật. Trong thí nghiệm này, ông bắt 2 con khỉ làm cùng một nhiệm vụ, bỏ cùng một mức độ công sức và rồi thưởng cho chúng cùng một phần thưởng – mỗi con được một miếng dưa chuột.
Mọi thứ đến đây đều tuyệt vời. Những con khỉ sẽ ngấu nghiến miếng dưa mà chúng nhận được. Nhưng sau đó, De Waal cố tình thay đổi cách trao thưởng. Vẫn những nhiệm vụ đó, nhưng bây giờ, một con khỉ được thưởng một quả nho – ngọt hơn nhiều – còn con khỉ còn lại vẫn nhận được dưa chuột.
De Waal đề xuất rằng tính ác cảm với bất công nảy sinh ở con người và các loài động vật để củng cố sự hợp tác trong xã hội. Tất cả các xã hội dù là động vật hay con người, dù là tiền sử hay hiện đại đều hoạt động dựa trên sự hợp tác. Và nền tảng của sự hợp tác là mọi người phải nhận được phần thưởng công bằng.
Nếu hợp đồng công bằng đó trong xã hội bị phá vỡ, sự bất công sẽ bị đáp trả bằng một hình phạt để ngăn chặn sự sụp đổ của khế ước cơ bản giữ cho xã hội đó tồn tại – đó là sự công bằng.
Do đó, bất cứ ai gây ra sự bất công đều sẽ phải bị trừng phạt. Và người ta thậm chí còn trừng phạt cả những người đã gây ra bất công cho người khác, dù họ không phải là nạn nhân.
Các nhà thần kinh học đã tìm thấy một vùng trong não bạn có thể bị kích hoạt để nhận diện sự bất công và phản ứng với nó. Đảo não trước và hạch hạnh nhân, vùng xử lý những cảm xúc phức tạp của con người, sẽ sáng lên dưới máy cộng hưởng từ khi bạn nhìn thấy một sự bất công.
Những mạch cảm xúc này trong não bộ sẽ được kích hoạt ngay tức thì khi bạn đọc được một câu chuyện hàm chứa sự bất công trên Facebook. Và bạn sẽ chiến đấu vì sự bất công đó, bằng cách trừng phạt người tạo ra bất công, đầu tiên chính là bằng icon “phẫn nộ”.
1 phẫn nộ bằng 5 lượt thích: Facebook rất thích bạn phẫn nộ
Quay trở lại thời điểm năm 2015, khi Facebook giới thiệu bộ biểu tượng cảm xúc mới của mình, họ đã không làm điều đó một cách ngẫu nhiên. Ý tưởng phải thay thế nút “thích”- được cho là đã quá già cỗi và nhàm chán trên nền tảng – đã được Chris Cox, giám đốc sản phẩm của họ, nhen nhóm.
Thời điểm đó, hơn 1 tỷ người dùng Facebook đang nhấn vào nút “thích” trung bình 6 tỷ lượt mỗi ngày – nhiều hơn cả số lượt tìm kiếm trên Google được thực hiện trong vòng 24 giờ.
Nút “thích” vẫn là trái tim của Facebook, nó quyết định đến thuật toán, doanh số và hàng nghìn tỷ USD mỗi quý đổ về công ty. Nút “thích” là biểu tượng của nền văn minh Facebook mà nếu ai đó nói nền tảng xã hội này là một quốc gia lớn nhất hành tinh, quốc kỳ của nó hẳn phải là nút “thích.
Sự thật là Facebook đã cho dựng một biểu tượng nút “thích” khổng lồ ngay ngoài lối vào trụ sở của mình tại Menlo Park, California.
Nếu ai đó nói Facebook là một quốc gia lớn nhất hành tinh, quốc kỳ của nó hẳn phải là nút “thích.
Cox là người đầu tiên nhận ra thực tế rằng nút “thích” vẫn là một công cụ quá thô sơ và vụng về trên Facebook. Khi một người dùng đăng một bài viết, tấm ảnh hay ghi chú nào đó, những người khác chỉ có thể lựa chọn “thích” hoặc bỏ qua không thích bài viết.
Nhưng khao khát thể hiện cảm xúc của người dùng mạng xã hội vượt ra ngoài hai lựa chọn đó. Và thế là Cox đã tổ chức một cuộc họp với 6 giám đốc điều hành của Facebook ở Four Seasons Silicon Valley, cách trụ sở chính 10 phút lái xe và nói rằng họ phải cải tiến nút “thích”.
Cuộc cách mạng được ví như Coca-Cola cải tiến công thức bí mật của mình. Và khi Mark Zuckerberg nhận được báo cáo về cuộc họp, anh ấy đã nói với Cox đại loại: “Được cứ làm đi”, và “Chúc may mắn, Cox”.
Để cải tiến nút “thích”, Chris Cox đã tập hợp một nhóm các nhà tâm lý học và xã hội học hàn lâm để quét qua toàn bộ các cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố của con người. Một trong số đó có cả sự tham gia của giáo sư tâm lý học Dacher Keltner đến từ Đại học California, người từng làm cố vấn cho bộ phim “Inside Out” của Pixar.
Keltner và các cộng sự của ông đã liệt kê ra tổng cộng 25 cung bậc cảm xúc tất cả của con người – từ sự sung sướng tột độ, cảm giác sợ hãi, sự tự tin, xấu hổ, cảm giác trung tính cho đến một cái thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng vì sự giới hạn của nền tảng, Cox biết mình không thể nhé toàn bộ 25 icon bên cạnh nút “thích” được. Thế là những cuộc bỏ phiếu liên miên trong nội bộ Facebook và tổ tư vấn xã hội của họ đã được thực hiện. Danh sách dần dần được rút xuống chỉ còn 6 biểu tượng: “trái tim”, “haha”, “yay”, “wow”, “buồn” và “phẫn nộ”.
Ý tưởng được Mark Zuckerberg thông qua và Facebook chính thức ra mắt bản cập nhật 6 biểu tượng cảm xúc nào vào năm 2015.
Mark Zuckerberg và Chris Cox, người đã thêm nút “phẫn nộ” vào Facebook.
Tại thời điểm đó, các biểu tượng đã tạo ra một cơn địa chấn trên nền tảng. Kể từ bây giờ, người dùng Facebook có thể mở rộng lựa chọn tương tác của mình. Họ có thả tim, cười haha, thể hiện sự ngạc nhiên hoặc phẫn nộ với bài đăng của người khác.
Đổi lại, Facebook cũng thu được một kho dữ liệu cảm xúc khổng lồ từ phía người dùng. Họ phân tích số lượt thả cảm xúc của người dùng để đề xuất trang “News Feed” cho họ, mục đích bên ngoài họ nói là để phục vụ người dùng tốt hơn, nhưng mục tiêu ẩn giấu cuối cùng vẫn là giữ chân người dùng trên nền tảng để bán quảng cáo.
Tại đây, các phân tích kỹ thuật cho thấy mỗi lượt thả phẫn nộ có giá trị gấp 5 lần lượt “thích”. Nói cách khác, các bài viết tạo ra phẫn nộ đang giữ chân người dùng Facebook gấp 5 lần. Con số chỉ là 2 lần khi nói đến biểu tượng cảm xúc “trái tim”, thứ mà cố vấn xã hội học Keltner của Facebook từng tự tin rằng nó sẽ phải chiếm trọng số cao nhất.
Sự thật hóa ra không phải vậy, cảm xúc phẫn nộ mới là thứ giữ chân người dùng trên nền tảng lâu hơn và đem về doanh số cao hơn cho công ty. Có thời điểm, chính Mark Zuckerberg cũng công khai khuyến khích người dùng thả phẫn nộ nhiều hơn mỗi khi họ không thích bài đăng nào đó. Dù điều này sẽ khiến các dạng bài tương tự xuất hiện trên bảng tin của họ nhiều hơn.
Khi sự phẫn nộ trên mạng xã hội trở nên mất kiểm soát
Quay trở lại với cảm xúc phẫn nộ của con người. Tâm lý học nói rằng những cơn phẫn nộ được kích hoạt bởi cảm giác đối mặt với bất công, và thêm vào đó là sự bất công “có thể kiểm soát được”.
Nhưng thế nào là sự bất công có thể kiểm soát? Hãy tưởng tượng một người tiền tử đang đi săn linh dương thì cũng bắt gặp một con sư tử cũng đi săn con linh dương đó.
Người tiền sử đã dành cả một ngày trời để đuổi theo con linh dương cho tới khi nó mỏi mệt, chỉ để bị con sư tử vồ lấy, cuỗm mất con mồi ngon lành đáng ra là của người tiền sử.
Ảnh minh họa.
Lúc này, anh ấy có phẫn nộ không? Câu trả lời là: Có! Chúng ta nhìn thấy một sự không công bằng rõ ràng ở đây. Nhưng cơn phẫn nộ của anh anh ấy có thể kiểm soát không? Câu trả lời là: Không! Anh ta sẽ không thể làm gì con sư tử, bởi nếu làm gì nó, anh ấy có thể sẽ phải trả giá đắt.
Sự bất công cộng với sợ hãi sẽ không khiến người tiền sử có bất kỳ hành động gì với con sư tử ở ngoài đời thật. Nhưng hãy tưởng tượng nếu anh ta trở về hang động, bật máy tính và viết “status” kể về câu chuyện đi săn ngày hôm nay. Tất cả những người dùng Facebook ở các bộ tộc khác sẽ thả icon “phẫn nộ” và đồng cảm với anh ấy.
Họ sẽ tràn vào tường nhà của con sư tử để thả “phẫn nộ”, lên án nó và tẩy chay nó.
Có thể thấy, mạng xã hội đang cung cấp cho loài người một môi trường trực tuyến rất an toàn để thể hiện sự phẫn nộ của mình. Không ngạc nhiên khi một nghiên cứu trên tạp chí Science Advances kết luận rằng mạng xã hội đang khiến loài người phẫn nộ nhiều hơn bao giờ hết.
Sử dụng phần mềm học máy, các nhà nghiên cứu đã phân tích 12,7 triệu tweet từ 7.331 người dùng Twitter thu thập được trong một số sự kiện gây tranh cãi ngoài đời thực, từ tranh chấp về tội ác thù hận đến xô xát trên máy bay.
Họ đánh giá cách hành vi của người dùng mạng xã hội theo thời gian và kiểm tra xem các thuật toán mạng xã hội thưởng cho người dùng thế nào khi họ thể hiện sự phẫn nộ.
Kết quả cho thấy: “Sự khuếch đại của sự phẫn nộ về mặt đạo đức là hậu quả rõ ràng của mô hình kinh doanh của phương tiện truyền thông xã hội, mô hình này tối ưu hóa cho sự tham gia của người dùng”, đồng tác giả Molly Crockett, phó giáo sư tâm lý học tại Đại học Yale cho biết.
Điều đó có nghĩa là càng có nhiều câu chuyện phẫn nộ trên mạng xã hội thì nó càng giữ chân được người dùng.

Các tài liệu nội bộ của công ty bị lộ cho thấy trong giai đoạn từ năm 2017, Facebook đã chủ động đẩy hàng loạt nội dung phẫn nộ lên bảng tin của người dùng để câu kéo cảm xúc và thời gian sử dụng của họ.
Mặc dù nghiên cứu này tập trung vào Twitter, hiện đã được đổi tên thành X, nhưng nó cũng đúng với Facebook với biểu tượng cảm xúc “phẫn nộ” của nền tảng của mình. Các tài liệu nội bộ của công ty bị lộ cho thấy trong giai đoạn từ năm 2017, Facebook đã chủ động đẩy hàng loạt nội dung phẫn nộ lên bảng tin của người dùng để câu kéo cảm xúc và thời gian sử dụng của họ.
Đến nỗi, Frances Haugen, một nhà khoa học dữ liệu đã đứng giữa Quốc Hội Anh và tuyên bố rằng: “Sự tức giận và thù hận là cách dễ nhất để đưa Facebook phát triển”.
Đối mặt với những áp lực yêu cầu Facebook phải sửa đổi thuật toán, công ty này đã án binh bất động cho tới khi chính họ phát hiện ra rằng việc đề cao sự phẫn nộ đang gây hại cho nền tảng.
Việc Facebook ủng hộ các bài đăng gây phẫn nộ đã khiến hoạt động spam, lạm dụng và clickbait (mồi nhử nhấp chuột) xảy ra tràn lan trên nền tảng. Đến năm 2019, chính những nhà khoa học dữ liệu của công ty xác nhận các bài đăng nhiều lượt phẫn nộ thường có chất lượng thấp, chứa thông tin sai lệch và độc hại.
Do đó, họ đã điều chỉnh lại trọng số của cảm xúc “phẫn nộ” từ 5 về 1 để bảo vệ nền tảng của mình.
Nhưng làn sóng phẫn nộ vẫn không biến mất
Có thể coi việc Facebook giới thiệu biểu tượng cảm xúc “phẫn nộ” giống như một thanh kiếm của Samurai, mà một khi nó đã được rút ra thì sẽ phải nhuốm máu. Nó cũng có thể được coi là một chiếc hộp Pandora, mà một khi đã được mở ra sẽ đem đến rất nhiều tai ương trên nền tảng.
Vốn là một cảm xúc mạnh mẽ, sự phẫn nộ thúc đẩy con người trừng phạt những kẻ vi phạm chuẩn mực đạo đức. Mặc dù phẫn nộ có thể đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sự hợp tác và giữ cho các hành vi xấu bị trừng phạt, nó cũng mang lại nhiều hệ lụy tiêu cực, làm trầm trọng thêm xung đột xã hội và có thể dẫn đến những cuộc chiến đòi công lý dựa trên thông tin sai lệch.
Internet làm gia tăng các vụ việc gây phẫn nộ so với ngoài đời thực và các nền tảng truyền thông khác.
Trước khi Internet xuất hiện, thông tin về các vi phạm chuẩn mực đạo đức thường được lan truyền thông qua lời đồn đại trong các mạng xã hội nhỏ lẻ, nhằm củng cố sự tin tưởng và hợp tác trong cộng đồng.
Tuy nhiên, các nền tảng trực tuyến hiện nay đã thay đổi sâu sắc động lực của việc chia sẻ thông tin. Với sự xuất hiện của các thuật toán tối ưu hóa việc thu hút sự chú ý để tạo ra doanh thu quảng cáo, nội dung gây phẫn nộ dễ dàng được lan truyền rộng rãi tới một số lượng lớn công chúng bất kể lợi ích của người chia sẻ hay thậm chí là độ chính xác của thông tin đó.
Chỉ với một vài cú nhấp chuột, người ta có thể lan truyền sự phẫn nộ của mình đến một lượng lớn người khác, thông qua những câu chuyện cá nhân. Điều này không chỉ dễ dàng mà còn mang lại nhiều lợi ích cho người chia sẻ, chẳng hạn như tăng cường danh tiếng cá nhân trên mạng hay cảm giác tự hào vì đã góp phần bảo vệ các chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Thế nhưng, việc đơn giản hóa hành vi phẫn nộ trên mạng xã hội có thể làm giảm chính chức năng tiến hóa của sự phẫn nộ ngoài đời thực.
Bởi bây giờ, phẫn nộ chỉ đơn giản là thả một icon trên điện thoại, vào lục tung trang cá nhân của ai đó và chia sẻ các nội dung kích thích “chiến tranh” trên mạng, nó có thể gây chia rẽ cộng đồng và khiến mọi người ít tham gia vào các hoạt động thiết thực hơn.
Chẳng hạn, nhiều người cho rằng mình đã thể hiện sự yêu nước bằng cách tấn công một ai đó trên mạng xã hội, thay vì tham gia các hoạt động thiện nguyện, đóng thuế hay hiến máu.
Sự phẫn nộ không đáng có sẽ gây ra hậu quả cho những người có hành vi không thực sự bất công, hoặc thậm chí là nạn nhân của tin giả hoặc thông tin sai lệch.
Ngoài ra, các nền tảng mạng xã hội còn có thể khuyến khích việc thể hiện sự phẫn nộ một cách thường xuyên và mất kiểm soát. Nó tạo ra một hiện tượng gọi là “giảm ngưỡng” cho các hành vi đáng phải nhận sự phẫn nộ.
Một số hành vi của một số người trên mạng xã hội không đáng bị lên án, nhưng bởi phần thưởng tiềm năng mà một số người có thể nhận được là quá lớn, chẳng hạn như củng cố hình ảnh cá nhân của họ trên mạng xã hội, những người này sẽ khuếch đại một số hành vi quá mức tạo ra những cơn “phẫn nộ ảo” và kêu gọi mọi người cùng tham gia vào với mình.
Vòng phản hồi tích cực của mạng xã hội khiến ngưỡng phẫn nộ giảm xuống đến một mức nào đó, nó có thể kích hoạt những sự phẫn nộ không đáng có, gây ra hậu quả không đáng có cho những hành vi không thực sự là bất công, hoặc thậm chí dựa trên tin giả hoặc thông tin sai lệch.
Tóm lại, mặc dù sự phẫn nộ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực xã hội, một khế ước về sự công bằng, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ về những rủi ro mà nó mang lại trong bối cảnh của kỷ nguyên số.
Các nền tảng trực tuyến như Facebook không chỉ khuếch đại các kích thích gây phẫn nộ mà còn thay đổi cách mà chúng ta trải nghiệm và thể hiện cảm xúc này. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn có thể gây ra những hệ lụy rộng lớn đối với toàn xã hội.
Tổng hợp
Các Nền Tảng MXH
Facebook tác động đến Marketing doanh nghiệp như thế nào
Thuật toán của Meta trên các nền tảng Facebook và Instagram chuyển đổi và nâng cấp từ mô hình Đồ thị Xã hội (Social Graph) sang Động cơ Dự đoán Mối quan tâm AI (AI-powered Interest Engine).
trước đây, cách phân phối nội dung phụ thuộc chủ yếu vào số lượng người theo dõi (Follower Graph) và các mối quan hệ kết nối trực tiếp giữa các tài khoản (Social Graph). Thì hiện tại, hệ thống dựa trên mô hình máy học sâu nhằm dự đoán hành vi, sở thích nhằm tối ưu hóa thời gian giữ chân người dùng và tự động phân phối nội dung dựa trên mức độ liên quan về chủ đề thay vì mối quan hệ theo dõi sẵn có.
Sự chuyển dịch này tác động sâu sắc đến cách vận hành Marketing của doanh nghiệp. Nếu như trước đây quy mô fanpage quyết định số lượng người tiếp cận nội dung, thì hiện tại một trang fanpage nhỏ có thể viral ngang với các trang lớn nếu như nội dung hấp dẫn và thu hút người dùng Meta.
Bảng so sánh 2 mô hình:

Song song với sự chuyển dịch này, Meta đã thiết lập và thực thi nghiêm ngặt Phân phối Nội dung (Content Distribution). Trạng thái phân phối nội dung trên hệ sinh thái Meta hiện nay được chia thành hai luồng vận hành riêng biệt:
- Phân phối kết nối (Connected Distribution): Luồng phân phối tiếp cận những người dùng đã có mối quan hệ theo dõi hoặc lịch sử tương tác trực tiếp với Trang.
- Phân phối không kết nối (Unconnected Distribution hay Recommendations): Luồng giới thiệu nội dung tự động tới những người dùng chưa từng theo dõi Trang, hoàn toàn dựa trên các mô hình AI dự đoán sở thích và mức độ liên quan.
Hệ thống phân loại bằng trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ liên tục rà soát và áp dụng biện pháp “Giảm phân phối” (Downranking) đối với các dạng nội dung vi phạm tiêu chuẩn chất lượng hoặc có dấu hiệu câu tương tác*.
Giảm phân phối là một hình thức kiểm duyệt thuật toán nghiêm ngặt; theo đó, nội dung vi phạm không bị loại bỏ hoàn toàn nhưng bị giảm lượt tiếp cận tự nhiên (có thể làm sụt giảm tới 80% lượt xem trung bình) hoặc bị loại bỏ khỏi luồng giới thiệu tự động tới người dùng mới. Đối với hoạt động câu tương tác còn kích hoạt cơ chế phạt ở cấp độ Trang (Page-level penalties), làm suy giảm toàn bộ điểm tín nhiệm của trang thương hiệu.
Lý do cho sự thay đổi này có thể đến từ hành vi và mối quan tâm của người dùng hiện tại giờ đã khác. Nhìn vào sự bùng nổ của Tiktok với nguồn cung cấp nội dung thuần túy trên Động cơ Khám phá đã làm thay đổi hành vi giữ chân người dùng và thời lượng sử dụng ứng dụng. Để bảo vệ thị phần và doanh thu quảng cáo, Meta bắt buộc phải thực hiện tái cấu trúc hệ thống phân phối.
Đối mặt với sự thay đổi này, các doanh nghiệp cần “đổi mới” những cách làm Facebook marketing đã “lỗi thời” được xây dựng trong nhiều năm trước. Dưới đây là 5 cách làm không còn phù hợp mà doanh nghiệp cần loại bỏ ngay để phù hợp với thuật toán mới.
1. Mua Fanpage và Follower giả để Tạo Uy tín
Thao túng số lượng người theo dõi bằng cách mua lại Fanpage có sẵn hoặc sử dụng dịch vụ tăng follower ảo từng là giải pháp phổ biến nhằm tạo ra hiệu ứng tâm lý đám đông (Social Proof). Tuy nhiên, xét dưới cơ chế vận hành của thuật toán AI hiện tại, chiến thuật này không còn mang lại giá trị phân phối mà còn gây ra những hệ quả nghiêm trọng cho tài khoản.

Mua fanpage và follow ảo sẽ không qua mắt được AI
Khi một Fanpage đổi tên đột ngột, thay đổi chủ đề nội dung hoặc xuất hiện sự gia tăng bất thường về lượng follower từ các khu vực địa lý không liên quan, hệ thống phân loại sẽ lập tức đánh dấu vi phạm tài nguyên. Mặt khác, các tài khoản ảo do phần mềm tự động điều hành liên tục bị quét và loại bỏ hàng loạt khỏi hệ thống.
Về mặt vận hành thuật toán, hệ thống xếp hạng nội dung của Meta dựa trên quy trình thử nghiệm tín hiệu ban đầu (Early Retention and Signal Testing). Khi một bài viết được xuất bản, thuật toán sẽ phân phối thử nghiệm tới một nhóm nhỏ người theo dõi hiện tại để đo lường tỷ lệ giữ chân, lượt xem hoàn tất và các tương tác sâu như bình luận có nghĩa hay chia sẻ. Do lượng follower mua ảo không tạo ra bất kỳ tương tác thực tế nào, tỷ lệ phản hồi ở nhóm thử nghiệm sẽ tiệm cận mức 0. Tín hiệu thất bại này khiến thuật toán đánh giá bài viết là nội dung kém chất lượng, từ đó ngắt hoàn toàn khả năng lan truyền sang luồng phân phối không kết nối.
Vì thuật toán AI sẽ đánh giá nội dung của fanpage thông qua mức độ quan tâm và hành vi người dùng, việc sở hữu một fanpage hàng triệu follower ảo hoàn toàn không đảm bảo lượt tiếp cận nếu điểm liên quan bị đánh giá thấp. Thay vì mua follow, hãy tập trung xây dựng nội dung chuẩn tệp khách hàng mục tiêu để thu hút “Phân phối không kết nối”, dù việc này mất rất nhiều thời gian nhưng sẽ giúp Marketing của doanh nghiệp được ổn định và tiếp cận đúng khách hàng mục tiêu.
2. Tổ chức Mini Game để “Câu” Tương tác (Engagement Baiting)
Các bài đăng chứa lời kêu gọi ép buộc tương tác như yêu cầu để lại bình luận, thả biểu tượng cảm xúc, tag tên người quen hoặc chia sẻ bài viết để nhận mã giảm giá từng tạo ra các đợt bùng nổ chỉ số ngắn hạn. Đến thời điểm hiện tại, đây là hành vi bị Meta chính thức đưa vào danh sách trừng phạt trọng tâm trong hoạt động Phân phối Nội dung.

Meta chia sẻ cách tránh đăng nội dung câu tương tác trên Facebook
Thuật toán nhận diện chính xác các dạng bẫy tương tác phổ biến bao gồm bẫy bình luận (yêu cầu để lại kí tự, từ khóa đơn lẻ hoặc tag tên), bẫy chia sẻ (yêu cầu chia sẻ lên trang cá nhân hay hội nhóm) và bẫy bình chọn (yêu cầu thả cảm xúc để chọn phương án). Các bình luận phát sinh từ mini game thường chỉ chứa biểu tượng cảm xúc, một vài ký tự hoặc thẻ tag tài khoản khác; hệ thống AI phân loại đây là nhóm “Bình luận chất lượng kém” (Low-quality comments) và loại bỏ chúng khỏi chỉ số “Tương tác Ý nghĩa” (Meaningful Interactions).
Nội dung bị xác định là bẫy tương tác sẽ chịu án phạt giảm phân phối ngay lập tức trên cả Bảng tin (Feed) và thước phim ngắn (Reels). Nghiêm trọng hơn, nếu một Fanpage tái diễn hành vi này một cách hệ thống, thuật toán sẽ nâng lên cấp độ phạt Trang (Page-level demotion), làm tụt giảm reach hữu cơ của toàn bộ các bài đăng hợp lệ khác xuất bản trong tương lai.
Thay vì các hoạt động Mini Game “câu” tương tác hãy đưa ra các cuộc thảo luận mở, khảo sát ý kiến thực tế hoặc câu hỏi tạo giá trị chuyên môn.
3. Seeding Ảo và Sử dụng Mạng lưới Tài khoản Giả lập
Chiến thuật sử dụng tài khoản phụ (nick ảo), công cụ tự động hóa hoặc các nhóm trao đổi tương tác chéo nhằm tạo ra kịch bản thảo luận sôi nổi bên dưới bài đăng đã bị các hệ thống phòng vệ của Meta vô hiệu hóa sâu sắc.
Hệ thống AI của Meta phân tích liên tục cấu trúc dữ liệu theo chuỗi nhằm phát hiện các mối tương quan bất thường giữa các tài khoản (Correlation Discovery and Feature Engineering). Thuật toán dễ dàng nhận diện các dấu hiệu đáng nghi như sự đồng bộ thời gian tuyệt đối khi hàng chục tài khoản cùng để lại phản hồi trong một khoảng thời gian ngắn, việc sử dụng lặp lại các đoạn văn bản sao chép (cut-and-paste text blocks), hoặc mạng lưới các tài khoản chỉ tương tác chéo lẫn nhau mà không có lịch sử duyệt Feed tự nhiên.

Mua seeding tạo hiệu ứng giờ không còn hiệu quả với thuật toán AI
Tất cả các bình luận seeding ảo bị phát hiện sẽ bị thuật toán hạ thứ hạng hiển thị hoặc ẩn hoàn toàn khỏi News Feed của người dùng. Việc duy trì hoạt động seeding ảo với mật độ cao sẽ kích hoạt cơ chế Shadowban đối với Trang, làm gián đoạn khả năng xuất hiện trên kết quả tìm kiếm và nguồn cấp dữ liệu trong khoảng thời gian từ 7 đến 30 ngày, đồng thời tước bỏ quyền truy cập các chương trình kiếm tiền của Meta.
4. Đăng Bài Tần suất Cao và Phụ thuộc vào “Giờ Vàng”
Quan niệm đăng bài với mật độ dồn dập và cố định vào các khung giờ cao điểm truyền thống dựa trên giả định sai lầm rằng mục “Bảng tin” vận hành theo thời gian thực. Trong cơ chế hiện tại, Bảng tin Meta vận hành theo phương thức phân phối bất đồng bộ dựa trên dự đoán của AI (Asynchronous Predictive Delivery). Một bài đăng có chất lượng nội dung cao có thể xuất hiện trên Feed của người dùng sau 24 đến 48 giờ kể từ thời điểm xuất bản nếu hệ thống dự đoán người dùng đó có khả năng quan tâm cao.

Content hay sẽ tự viral mà không phụ thuộc vào “giờ vàng”
Việc xuất bản các bài viết với tần suất quá dày trong một ngày tạo ra hiện tượng tự cạnh tranh tầm nhìn (Content Cannibalization), nơi các bài đăng trên cùng một Trang tự giành giật lượng phân phối thử nghiệm ban đầu. Đồng thời, hành vi đăng bài liên tục kết hợp với việc nhồi nhét từ khóa hoặc sử dụng quá 5 hashtag (Caption stuffing) bị thuật toán nhận diện là tín hiệu nội dung rác (Spammy patterns). Việc phân phối nhiều bài viết có tỷ lệ xem hoặc thời gian dừng chân (Dwell time) thấp liên tiếp sẽ làm suy giảm điểm chất lượng tổng thể của Trang, dẫn đến việc giảm tỷ lệ phân phối trung bình.
5. Content Thuần Bán hàng và Ưu đãi Đơn điệu
Việc xây dựng tuyến nội dung tập trung toàn bộ vào thông tin sản phẩm, giá cả và chương trình giảm giá mà không cung cấp giá trị thông tin, giải trí hay giáo dục tạo ra phản ứng dội ngược mạnh mẽ từ hệ thống khuyến nghị.
Meta ưu tiên hiển thị những nội dung mang lại trải nghiệm tích cực nhằm giữ chân người dùng ở lại ứng dụng lâu hơn. Các bài đăng mang tính thương mại thuần túy thường nhận về chuỗi tín hiệu phản hồi tiêu cực như việc người dùng lướt qua cực nhanh (Fast skip), nhấn nút ẩn bài viết (Hide post), hoặc chọn giảm hiển thị nội dung tương tự. Những phản hồi này khiến thuật toán cắt giảm tối đa khả năng tiếp cận tự nhiên.
Tệ hơn, khi doanh nghiệp sử dụng các thông điệp bán hàng đơn điệu này để triển khai chiến dịch quảng cáo trả phí (Meta Ads), hệ thống đấu giá (Ad Auction) sẽ chấm điểm xếp hạng chất lượng (Quality Ranking) và tỷ lệ tương tác dự đoán (Engagement Rate Ranking) ở mức rất thấp. Tín hiệu chất lượng kém buộc doanh nghiệp phải trả chi phí đấu giá (CPM, CPC) cao hơn đáng kể so với các đối thủ sản xuất nội dung quảng cáo có tính bản địa và giá trị truyền tải cao.
Khởi Nghiệp
Giới trẻ Trung Quốc lập công ty một người để tránh áp lực thất nghiệp
Thay vì tìm kiếm một công việc mới sau khi mất việc hoặc rời bỏ môi trường doanh nghiệp áp lực cao, ngày càng nhiều người trẻ Trung Quốc lựa chọn “lập công ty một người”…
Theo Wall Street Journal, Wu Songyun, 35 tuổi, từng làm trong lĩnh vực thương mại quốc tế tại Thành Đô. Áp lực công việc và thời gian làm việc kéo dài khiến cô thường xuyên mất ngủ. Năm 2024, Wu nghỉ việc và thành lập TideFlow, một ứng dụng theo dõi giấc ngủ, cung cấp các bài tập thiền và gợi ý cải thiện chất lượng nghỉ ngơi.
“Áp lực công việc quá lớn. Bây giờ tôi thấy tốt hơn”, Wu nói.
7 TRIỆU DOANH NGHIỆP MỘT NGƯỜI MỚI ĐƯỢC THÀNH LẬP
Nhưng TideFlow chưa đạt được kết quả như kỳ vọng. Sau khi ra mắt trong một thị trường cạnh tranh gay gắt tại Trung Quốc, ứng dụng mới có khoảng 1.000 người dùng, trong đó khoảng 35 người trả phí. Công ty vẫn thua lỗ hàng tháng.
Wu là một trong số ngày càng nhiều người Trung Quốc lựa chọn thành lập doanh nghiệp chỉ với một người. AI được sử dụng để hỗ trợ nhiều công việc trước đây thường cần cả một đội ngũ, từ lập trình, chăm sóc khách hàng đến tiếp thị sản phẩm.
Theo truyền thông Trung Quốc, hơn 7 triệu doanh nghiệp một người mới được thành lập trong năm 2025, tăng khoảng 42% so với năm 2024. Con số này bao gồm nhiều loại hình kinh doanh khác nhau, không chỉ các startup AI.
Sự phát triển của mô hình này diễn ra trong bối cảnh thị trường việc làm của người trẻ Trung Quốc gặp nhiều sức ép. Chính quyền địa phương tại một số trung tâm công nghệ đang đưa ra các chính sách hỗ trợ như nhà ở, không gian văn phòng và phiếu sử dụng năng lực tính toán AI với chi phí thấp hơn. Hàng trăm vườn ươm dành cho các doanh nghiệp siêu nhỏ cũng xuất hiện tại những trung tâm công nghệ như Hàng Châu và Thâm Quyến.
“AI đang tạo ra tất cả những lo ngại về việc thay thế việc làm”, Guo Shan, đối tác tại công ty tư vấn Hutong Research ở Thượng Hải, nhận xét. Theo bà, các công ty một người có thể trở thành “một cơ hội việc làm”.
Với chính quyền Trung Quốc, xu hướng này đồng thời gắn với hai mục tiêu: thúc đẩy ứng dụng AI trong nền kinh tế và tạo thêm cơ hội việc làm cho lực lượng lao động trẻ.
TỰ KINH DOANH ĐỂ THOÁT KHỎI ÁP LỰC VIỆC LÀM
Làn sóng khởi nghiệp một người không chỉ xuất hiện tại Trung Quốc. Tại Mỹ, xu hướng này cũng đang phát triển khi AI giúp một cá nhân có thể đảm nhiệm nhiều công việc vốn cần cả nhóm nhân sự. CEO OpenAI Sam Altman từng dự đoán AI sẽ tạo ra công ty một người đầu tiên có giá trị 1 tỷ USD.
Tại Trung Quốc, mô hình này có thêm một số điều kiện thuận lợi. Chi phí vận hành thấp, các mô hình AI mã nguồn mở do doanh nghiệp Trung Quốc phát triển ngày càng phổ biến, trong khi mạng lưới sản xuất và cung ứng dày đặc giúp các doanh nghiệp nhỏ dễ tiếp cận nguồn lực sản xuất.

Nhưng với một bộ phận Gen Z và thế hệ Millennials Trung Quốc, khởi nghiệp không hẳn bắt đầu từ một ý tưởng kinh doanh lớn. Một số người lựa chọn con đường này sau khi bị sa thải khỏi các công ty công nghệ lớn; những người khác muốn thoát khỏi môi trường làm việc có cường độ cao.
Tại Honghub, một cộng đồng dành cho các doanh nhân một người ở Hàng Châu, nhu cầu về sự tự chủ thể hiện khá rõ. Cộng đồng này do nhà đầu tư Johnny Zou thành lập vào tháng 9/2025, hiện có hơn 50 công ty một người. Nhiều doanh nghiệp được nhận khoản vốn khởi nghiệp lên tới 50.000 USD từ vườn ươm.
Theo Zou, khoảng một phần ba số người sáng lập từng khởi nghiệp trước đó, trong khi một phần ba từng làm việc tại các công ty công nghệ lớn.
Hàng Châu là địa điểm thuận lợi cho mô hình này khi vừa là trung tâm thương mại điện tử vừa là một trong những điểm nóng AI của Trung Quốc. Alibaba và DeepSeek đều đặt hoạt động tại khu vực này.
Chính quyền địa phương cũng đang tìm cách thu hút các doanh nhân một người. Tháng 3/2026, quận Thượng Thành, nơi Honghub đặt trụ sở, công bố kế hoạch thu hút 1.000 người kinh doanh một người trong năm nay. Quận dự kiến dành hơn 200.000 feet vuông diện tích văn phòng và thành lập quỹ gần 150 triệu USD cho các dự án.
Tuy nhiên, hỗ trợ về mặt bằng hay vốn không đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp này có thể nhanh chóng tạo ra doanh thu. Theo khảo sát của Honghub với 1.500 công ty một người, hơn một nửa có doanh thu dưới 1.000 USD mỗi tháng.
Bob Chen, nhà đầu tư tại quỹ đầu tư mạo hiểm BVF ở Thượng Hải, cho biết ông chưa đầu tư vào các công ty một người. “Rất khó để thực sự có được đơn hàng và doanh thu. Phần lớn đang làm những thứ người khác đã làm. Họ không có kế hoạch dài hạn”, ông nói.
AI GIÚP GIẢM CHI PHÍ, NHƯNG CHƯA TẠO MÔ HÌNH KINH DOANH BỀN VỮNG
Haoyu Liu, 29 tuổi, từng là kỹ sư phần mềm tại một công ty thương mại điện tử ở New York. Khi chứng kiến tốc độ tự động hóa và các đợt cắt giảm nhân sự trong ngành công nghệ, Liu cho rằng cách để thích ứng là trở thành ông chủ của chính mình.
Năm ngoái, anh trở về Trung Quốc, nơi mình sinh ra, để phát triển một ứng dụng về chiêm tinh. Liu tự vận hành toàn bộ doanh nghiệp, sử dụng AI để thiết kế ứng dụng, xử lý công việc hành chính và viết nội dung tiếp thị.
“Tôi đang đón nhận làn sóng công nghệ này thay vì chống lại nó”, Liu nói.
Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau, khi chưa tìm được mô hình kiếm tiền từ ứng dụng chiêm tinh, Liu chuyển hướng sang phát triển một ứng dụng trò chơi AI. Sản phẩm có tên Hunger Agents hiện đang được xây dựng nguyên mẫu.
Việc thay đổi mô hình kinh doanh là khá phổ biến ở các công ty một người. Một số doanh nghiệp sau khi đạt được thành công sẽ tuyển thêm nhân sự hoặc được một công ty lớn hơn mua lại. Những người khác tiếp tục duy trì quy mô nhỏ nếu có thể tạo đủ thu nhập để tự trang trải.
Với nhóm này, mục tiêu không nhất thiết là xây dựng một startup trị giá hàng tỷ USD. Họ tìm kiếm sự tự chủ và một mô hình kinh doanh đủ để duy trì cuộc sống.
“Chúng tôi thích sự tự do mà khởi nghiệp mang lại. Bạn có thể nghỉ ngơi bất cứ khi nào muốn”, Liu nói.
AI đang làm giảm đáng kể rào cản gia nhập đối với những người muốn tự xây dựng sản phẩm. Theo khảo sát của Honghub, khoảng ba phần tư những người sáng lập công ty một người không có nền tảng kỹ thuật.
Arvin Chen, 25 tuổi, một nhà sáng lập tại Honghub đang phát triển thiết bị microphone cho phép người dùng trực tiếp giao tiếp với các AI agent, cho rằng AI đã thay đổi cách một startup được xây dựng. Anh sử dụng AI cho nhiều công việc, từ chỉnh sửa video, lập trình phần backend đến sắp xếp các hoạt động cá nhân.
“Những người từng nghĩ đến việc làm một điều gì đó trong quá khứ thì giờ đây có thể ngừng suy nghĩ và bắt tay vào làm”, Chen nói.
Ver2Solution theo Vneconomy
Tâm Lý Học NTD
Xu hướng người dùng nghiện cày phim AI
Chi tiền triệu ‘cày’ phim ngắn AI. Dặn lòng nghỉ sớm Huyền Trang vẫn nạp thêm 99.000 đồng vào ứng dụng phim ngắn để xem nốt những tập còn lại của một phim AI.
“Nội dung tào lao, tình tiết dễ đoán, diễn viên AI không phải người thật, nhưng rất cuốn, không thể dứt ra được”, Huyền Trang, 36 tuổi ở TP HCM, chia sẻ.
Trang cho biết, trước đó cô thường xem ngắt quãng vài tập ngắn khi vô tình lướt Facebook. Chúng thường kết thúc đúng đoạn cao trào, khiến cô tò mò dù từng xem một số video với kịch bản tương tự. Cô quyết định tải ứng dụng, ban đầu sử dụng miễn phí và chấp nhận xem quảng cáo, nhưng sau đó chi tiền “nạp điểm” để thoải mái theo dõi toàn bộ nội dung.
“Với giá từ 10.000 đồng kèm nhiều khuyến mãi lần đầu, tôi không ngần ngại thanh toán”, Trang nói.
Tương tự, Quốc Huy (Đà Nẵng) ban đầu xem phim AI miễn phí trên YouTube, TikTok hay Facebook Reels dưới dạng reup (đăng lại), nhưng chất lượng rất tệ do hình ảnh bị chỉnh sửa, độ phân giải thấp, các góc bị cắt cúp gây khó chịu. Dần dần, anh chấp nhận trả tiền cho ứng dụng.
“Nhiều lúc, tình tiết khiến tôi không thể cưỡng lại, muốn nạp tiền xem cho hết, có đêm nạp vài lần”, Huy nói. Lúc đăng ký gói, anh “không chút bận tâm” do số tiền nhỏ, nhưng cuối tháng vẫn bất ngờ vì tổng lên đến cả triệu đồng.
Trong các hội nhóm mạng xã hội, nhiều người cũng chia sẻ tưởng chừng chỉ trả vài chục nghìn cho bộ phim yêu thích, nhưng mỗi tháng vẫn tiêu tốn từ vài trăm nghìn đến cả triệu đồng. Ban đầu, họ chủ yếu xem phim do con người đóng, nhưng dần chuyển sang phim AI do nội dung đa dạng, phong phú hơn.
Trên các nền tảng phim ngắn như ReelShort, NetShort, DramaWave, PineDrama, FreeReels…, mỗi phim chia thành 50-100 tập, với mỗi tập vài phút, kết thúc ở điểm cao trào nhằm kích thích người xem “lướt” tiếp. Người dùng nạp các gói từ 10.000 đồng đến hơn triệu đồng để “mở khóa VIP” theo tháng, hoặc nạp điểm xem từng tập.
Quốc Huy cho biết, đa số ứng dụng video ngắn và phim có xuất xứ Trung Quốc, được Việt hóa hoặc lồng tiếng bằng AI. Nội dung trải dài nhiều chủ đề như tình cảm, hành động, viễn tưởng…, thậm chí dùng một kịch bản cho nhiều thể loại phim.
Thống kê của hãng tư vấn Deloitte cho thấy doanh thu toàn cầu từ phim ngắn trong ứng dụng đạt 3,8 tỷ USD năm 2025, dự kiến lên 7,8 tỷ USD năm nay. Dù không tách riêng doanh thu giữa phim do người đóng và phim AI, theo Channel News Asia, trong số 128.000 phim ngắn phát hành tại Trung Quốc trong quý I/2026, 95% được tạo ra bằng AI, tương đương 121.600 phim. Financial Times dẫn dữ liệu tính đến tháng 5 chỉ ra 89 trong 100 phim ngắn đứng đầu trên Douyin là sản phẩm AI.
Theo Báo cáo thị trường ứng dụng của Sensor Tower đầu năm, app phim ngắn đã chen chân vào nhóm ứng dụng giải trí phổ biến nhất, thay vì là sản phẩm ngách. Vào quý IV/2025, ứng dụng phim ngắn (short drama) vượt qua dịch truyền hình (OTT streaming) tại Việt Nam về lượt tải. Còn theo thống kê của nền tảng Adjust, tính cả năm 2025, người Việt chi 11,5 triệu USD (302 tỷ đồng) cho thể loại này.

Dữ liệu của Sensor Tower về lượt tải ứng dụng giải trí, trong đó phim ngắn (màu xanh) tăng dựng đứng, vượt ứng dụng truyền hình trong năm 2025. Ảnh chụp màn hình
TS Lê Duy Tân, nhà đồng sáng lập Phòng thí nghiệm AIoT Lab VN, giảng viên trường Đại học Quốc tế – Đại học Quốc gia TP HCM, đánh giá làn sóng tạo phim AI lan rộng khi công cụ tạo video trở nên phổ biến, thông minh và dễ sử dụng, như Google Veo, Runway hay TikTok Symphony. Bất cứ ai có ý tưởng có thể biến một đoạn mô tả thành cảnh phim.
“AI không chỉ làm tăng số lượng, mà còn tăng tốc độ sản xuất nội dung, tạo nhiều phiên bản trong thời gian ngắn”, TS Tân giải thích. “Khi nguồn cung gần như vô hạn gặp hệ thống đề xuất cũng vận hành bằng AI, một vòng lặp rất mạnh được tạo: AI tạo nội dung – AI phân phối nội dung – AI đo phản ứng của người xem – AI tiếp tục chọn nội dung phù hợp hơn cho người đó”.
Hoàng Minh, người chuyên làm phim AI với kênh YouTube 200.000 lượt theo dõi, cho biết điểm chung của loại nội dung này là không cần hình ảnh quá chân thật hay giống thực tế. “Sức hấp dẫn đến từ những kịch bản tạo sự thỏa mãn”, Minh nói.
“Kịch bản tạo sự thỏa mãn” thường là “bị tai nạn và sở hữu siêu năng lực”, “chủ tịch giả nghèo”, “chàng trai/cô gái nghèo đổi đời sau một đêm” hay “người chịu nhẫn nhục là tỷ phú ẩn danh”. “Hầu hết dễ đoán, nhưng nhiều người muốn xem đến cùng”, Minh cho hay. “Khán giả sẵn sàng chi tiền để xem những thứ khiến họ thấy thỏa mãn”.
TS Tân nhận xét, bên cạnh nội dung, một lý do video AI hấp dẫn liên quan đến thuật toán có khả năng “học” từ rất nhiều tín hiệu hành vi: dừng ở video nào, xem bao lâu, xem lại hay không, thích, bình luận, chia sẻ hoặc bỏ qua gì. Qua thời gian, hệ thống “biết” nội dung nào có khả năng giữ sự chú ý của mỗi người.
BS. CK2 Nguyễn Thanh Sang, Trưởng khoa Tâm lý lâm sàng – Phục hồi chức năng – Y học cổ truyền, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho rằng sức hấp dẫn của video ngắn đến từ việc tạo ra chuỗi phần thưởng nhanh và lặp lại. Dấu hiệu dễ thấy là người dùng thường xuyên xem lâu hơn dự kiến, mở điện thoại vô thức, nhiều lần đặt giới hạn nhưng không thực hiện được, khó chịu hoặc bồn chồn khi không được xem, liên tục thức khuya xem video, trì hoãn học tập hoặc công việc; hay giảm vận động, giao tiếp hoặc những sở thích trước đây.
“Video ngắn thậm chí trở thành công cụ điều hòa cảm xúc gần như duy nhất. Cứ buồn, căng thẳng, cô đơn, tức giận hay chán là cầm điện thoại lên xem”, BS Sang cho hay. “Nhiều dấu hiệu xuất hiện cùng nhau, kéo dài và bắt đầu gây suy giảm chức năng trong cuộc sống”.
Theo BS, những ai đang cảm thấy mình xem video ngắn quá nhiều không nhất thiết phải lập tức “cai hoàn toàn”. Thay vào đó, cần có lộ trình theo từng bước, từ quan sát hành vi thật bằng cách xem số liệu Screen Time trong một tuần để biết mình thực sự dành bao nhiêu thời gian, khung giờ nào, mở video ngắn trong trạng thái nào. Sau đó, tạo thay đổi như giới hạn khung giờ xem, tắt thông báo, đặt thời gian sử dụng ứng dụng, không mang điện thoại lên giường.
Trong khi đó, Huyền Trang cho biết đã đặt giới hạn ngân sách và thời gian, không nạp thêm tiền theo cảm xúc chỉ để mở khóa tập tiếp theo. “Cuối cùng, bản thân video ngắn không phải là ‘kẻ thù’. Điều cần kiểm soát là ở chính chúng ta”, BS Sang khuyến cáo.
Ver2Solution theo Vnexpress
-
Trong Nước1 năm agoBáo cáo thị trường nước hoa Việt Nam 2023-2025
-
Social2 năm agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (01-09/03/2025)
-
Trong Nước1 năm agoBáo cáo thị trường trang sức Việt Nam 2023-2025
-
Khởi Nghiệp1 năm agoCách thương hiệu thời trang nội địa vượt “bão” đóng cửa hàng loạt
-
Livestream2 năm agoBí quyết bán hàng livestream doanh thu cao
-
Livestream1 năm agoTài liệu nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm ngẫu hứng của người tiêu dùng
-
Xu Hướng2 năm agoXu hướng thời trang 2025 khởi động, mở đầu Milan Fashion Week: Gucci là ông lớn nhưng Dsquared2 mới là cái tên chiếm sóng MXH
-
Các Nền Tảng MXH2 năm agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (10-16/03/2025)

