Connect with us

Trong Nước

Du lịch Việt leo lên top 3 khu vực

Published

on

Sau 65 năm, du lịch Việt Nam từ “số 0” đã trở thành một trong những điểm đến đông khách nhất khu vực, chỉ sau Thái Lan và Malaysia, du lịch Việt leo lên top 3 khu vực.

“Những năm 1970, khách Tây ở Hà Nội ít lắm, không như bây giờ ra ngõ là gặp”, bà Vũ Thị Khiêm, nguyên Trưởng phòng Nghiệp vụ của Tổng công ty Du lịch Hà Nội (Hanoitourist), nhớ lại. Bà Khiêm bắt đầu làm tại Hanoitourist từ năm 1972, được giao nhiệm vụ thử và kiểm định chất lượng món ăn trước khi mang lên phục vụ các đoàn khách quốc tế của Chính phủ những năm bao cấp. Thời kỳ này, khách nội địa du lịch trong nước “còn ít nữa là khách quốc tế”.

Sau 65 năm thành lập và phát triển, hiện tại, du lịch Việt vượt qua Singapore, vào top 3 điểm đến hút khách nhất Đông Nam Á, sau Thái Lan và Malaysia, khi đón 17,6 triệu lượt khách vào năm 2024.

Những ngày đầu đón khách

Ngày 9/7/1960 đánh dấu bước khởi đầu của du lịch Việt, khi Công ty Du lịch Việt Nam được thành lập. Khi đó, đất nước còn chia cắt, chức năng chủ yếu của ngành là phục vụ các đoàn khách quốc tế, chuyên gia, theo Cục Du lịch Quốc gia.

Sau khi hòa bình lập lại vào năm 1975, Việt Nam bước vào thời kỳ Đổi mới (1986), du lịch vẫn chưa phát triển, chính sách đón khách quốc tế còn nhiều hạn chế.

Ông Nguyễn Quốc Kỳ, hiện là Chủ tịch HĐQT Vietravel, làm tại Công ty Du lịch TP HCM (Saigontourist) vào những năm 1980, cho biết khi đó du khách hầu như không thể đi tự túc, mà phải thông qua các công ty lữ hành quốc doanh như Saigontourist, Hanoitourist. Khách muốn đến phải có thư mời, xin thị thực qua cơ quan đại diện ngoại giao, hành trình thường được sắp xếp sẵn, ít linh hoạt.

Khó khăn lớn nhất của ngành du lịch Việt Nam vào thời điểm Đổi mới là bài toán tìm kiếm nguồn khách. Thị trường gần như chỉ trông vào khách Đông Âu. Các thế hệ đầu tiên của trong ngành đã phải trăn trở, tìm cách mở cánh cửa mới như tham dự các hội chợ du lịch tại Thái Lan nhằm quảng bá và thu hút khách.

Ông Alain Tấn Huynh, 72 tuổi, người Mỹ gốc Việt, về Hà Nội vào tháng 4/1989 cho biết nếu không có giấy phép đi lại do Chính phủ cấp, ông không thể đặt khách sạn.

“Mọi chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam khi đó đều phải qua Thái Lan xin visa rời”, ông nói. Trong khi đó, Du lịch Thái Lan lúc này “đã rất phát triển”, với dịch vụ lưu trú, ăn uống đủ tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế.

Đến Hà Nội, điều đầu tiên ông Tấn làm là tìm một tô phở, nhưng thành phố khi ấy chỉ phổ biến phở gà. Cà phê cũng khan hiếm và chỉ bán trong khách sạn. Cửa hàng trên phố chủ yếu bán nước chè và kẹo lạc.

Mark Bowyer, người Australia, lần đầu đưa 12 khách nước ngoài đến Việt Nam vào năm 1993. Mark nhớ lại đường sá tại Việt Nam thời kỳ này “rất tệ”, khách sạn của họ ở Quảng Ngãi còn chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, Mark không nghe lời phàn nàn nào từ khách. Họ đều nghĩ đó là một cái giá rất nhỏ để được trải nghiệm Việt Nam vào thời điểm đặc biệt như thế.

Theo ông Kỳ, những năm này hệ thống lưu trú cũng chưa phát triển, số khách sạn đạt chuẩn để phục vụ khách quốc tế “chỉ đếm trên đầu ngón tay”, tập trung tại Hà Nội, TP HCM và thêm vài thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, Nha Trang. Những cái tên quen thuộc có thể kể đến là khách sạn Rex, Majestic, Caravelle (TP.HCM), Metropole, khách sạn Thắng Lợi (Hà Nội).

Năm 1994, Mỹ tuyên bố dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam, mở ra chương mới cho ngành du lịch. Đây cũng là thời điểm Việt Nam hội nhập nhanh chóng với thế giới khi liên tiếp tham gia các khối như ASEAN, APEC, WTO. Nguyên vụ trưởng ASEAN Đỗ Ngọc Sơn cho biết du lịch Việt Nam có hai lợi thế lớn khi gia nhập. Thứ nhất, nhờ cơ chế miễn visa trong khối, khách dễ dàng nhập cảnh Việt Nam hơn. Thứ hai, Việt Nam là nước gia nhập sau, người dân các nước khác trong khối tò mò về điểm đến mới này, vì thế cũng đổ xô đến.

Theo Cục du lịch Quốc gia, lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 1990 đạt 250.000 lượt, chủ yếu là khách công vụ. Năm 1995, năm đầu tiên sau khi dỡ bỏ cấm vận, Việt Nam đón 1,35 triệu lượt khách quốc tế, tăng gấp 5 lần so với 5 năm trước.

Về hàng không, Việt Nam thời kỳ này vẫn chưa có nhiều đường bay thẳng kết nối với các điểm đến trên thế giới. Cuối năm 2003, Việt Nam ký hiệp định hàng không với Mỹ. Tuy nhiên, phải mất gần 20 năm, đến 2021, Việt Nam mới mở được đường bay thẳng (bay thương mại) từ Việt Nam đến Mỹ, chặng TP HCM – San Francisco, nguyên nhân do rào cản pháp lý và chi phí khai thác cao.

Tháng 2/2019, Cục hàng không Liên bang Mỹ (FAA) cấp chứng chỉ giám sát an toàn hàng không cho Cục Hàng không Việt Nam. Với chứng chỉ này, các hãng hàng không trong nước chưa thể mở ngay đường bay thẳng nhưng có thể hợp tác liên danh với các hãng bay lớn của nước ngoài đang thực hiện nay thẳng đến Mỹ, mở ra cơ hội mới cho du lịch Việt.

Hơn 20 năm sau khi được bỏ cấm vận, ngành du lịch Việt mới bắt đầu hưởng thành quả từ các nỗ lực ngoại giao, mở cửa và đổi mới trong chính sách hút khách. 2016 là năm đánh dấu bước ngoặt mới, khi Việt Nam lần đầu đón lượng khách quốc tế đạt hai con số, với 10 triệu lượt khách.

Lên đỉnh cao rồi về lại ‘số 0’

Du lịch Việt bước vào thời kỳ hoàng kim năm 2019, đón kỷ lục 18 triệu lượt khách quốc tế và doanh thu đóng góp hơn 9% vào GDP. Tốc độ tăng trưởng bình quân khách quốc tế của Việt Nam đạt 22,7%, được Tổ chức Du lịch Thế giới xếp vào nhóm các quốc gia có tăng trưởng cao.

Tuy nhiên, đà tăng trưởng của ngành du lịch đã bị chặn đứng bởi đại dịch Covid-19. Việc thế giới đóng cửa biên giới đã khiến lượng khách sụt giảm nghiêm trọng, đẩy ngành du lịch từ thời kỳ hoàng kim trở về “số 0”.

Dù Việt Nam đã mở cửa trở lại để đón khách quốc tế từ ngày 15/3/2022, sự phục hồi trong năm đó vẫn rất hạn chế do nhiều thị trường nguồn quan trọng, trong đó có Trung Quốc, vẫn duy trì chính sách đóng cửa biên giới.

Phục hồi và thách thức

Từ năm 2022, Chính phủ liên tục đưa ra các chính sách nới lỏng visa, cấp e-visa cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến nay, Việt Nam nâng quốc gia miễn thị thực đơn phương lên 24, chủ yếu là các nước châu Âu và top thị trường gửi khách lớn đến Việt Nam như Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Viện trưởng Phát triển Du lịch châu Á Phạm Hải Quỳnh đánh giá từ 2023, du lịch Việt đã “nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng và có những thành quả ấn tượng”, một phần nhờ chính sách thị thực cởi mở, nhiều lễ hội, sự kiện được tổ chức, thu hút du khách.

Cuối năm 2024, ngành du lịch Việt đón 17,6 triệu lượt khách quốc tế, là quốc gia có tỷ lệ phục hồi du lịch năm 2024 tốt nhất Đông Nam Á, với mức phục hồi đạt 98%. Việt Nam cũng đứng top 3 điểm đến hút khách nhất Đông Nam Á năm 2024, sau Malaysia với 38 triệu lượt khách, Thái Lan với 35,5 triệu.

CEO tập đoàn công nghệ Nvidia Jensen Huang (áo đen) giao lưu với người dân khi đi ăn khuya tại phố tây Tạ Hiện, Hà Nội hồi tháng 12/2024. Ảnh: Giang Huy

Càng ngày hình ảnh Việt Nam được nhiều du khách quốc tế biết đến hơn. Người nổi tiếng, các tỷ phú cũng bắt đầu chọn Việt Nam là điểm đến cho các chuyến du lịch, nghỉ dưỡng và tổ chức đám cưới. Những người nổi tiếng từng đặt chân đến Việt Nam phải kể đến tỷ phú Mỹ Bill Gates, tỷ phú Anh Joe Lewis, ông chủ Facebook Mark Zuckerberg.

Ngành du lịch và các điểm đến tại Việt Nam cũng bắt đầu nhận “mưa” giải thưởng từ các tổ chức uy tín trên thế giới như Tripadvisor, Sky Trax. Năm 2024, Việt Nam dành 48 giải thưởng trong khuôn khổ World Travel Awards.

Tại hội nghị tổng kết công tác năm 2024 của Bộ VHTTDL, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá lĩnh vực du lịch là điểm sáng trong bức tranh phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, khi hoàn thành chỉ tiêu đón 17,6 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu du lịch đạt 840.000 tỷ đồng.

8 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 14 triệu người, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn lượng khách quốc tế cả năm 2017 (12,9 triệu lượt).

Theo ông Quỳnh, Việt Nam có ba yếu tố quan trọng gồm thiên nhiên, lịch sử và văn hóa để hút khách quốc tế. Việt Nam cũng đầu tư mạnh vào hệ thống giao thông và cơ sở vật chất, nhiều tuyến đường cao tốc, sân bay, cảng biển được xây dựng giúp việc di chuyển dễ dàng hơn. Hệ thống khách sạn, resort chất lượng cao phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của mọi phân khúc khách hàng.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trương Hoàng, Trưởng khoa Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, năm 2025, ngành du lịch đã thực sự trở lại đường đua của những ngành kinh tế quan trọng nhất tại Việt Nam. Nếu duy trì tốc độ tăng trưởng đón khách quốc tế ở mức 20% của năm 2024, đến năm 2030 ngành có thể đón hơn 60 triệu lượt khách, vượt xa con số 50 triệu lượt trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2020-2030, bất chấp đại dịch đã kéo lùi 3-4 năm tăng trưởng.

Tuy nhiên, ông Hoàng đánh giá ngành du lịch hiện nay giống như “chiếc lò xo được tháo nén”. Do đó, để có thể tăng trưởng bền vững, ngành du lịch cần có những đánh giá, nghiên cứu về thành quả này để tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới, bên cạnh số lượng khách quốc tế, như tiềm năng du lịch, năng lực kinh doanh, quản lý du lịch, quảng bá điểm đến.

Trong báo cáo về Chỉ số Phát triển Du lịch và Lữ hành (TTDI) của Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố năm 2024, Việt Nam yếu nhất về chỉ số Ảnh hưởng kinh tế – xã hội của du lịch khi đứng thứ 115 trên 119 quốc gia, vùng lãnh thổ. Chỉ số này gồm 4 nội dung: đóng góp của Du lịch vào GDP và việc làm; tính bao trùm xã hội (mọi người cùng được hưởng lợi từ du lịch); phân bổ lợi ích kinh tế và ảnh hưởng đến phát triển bền vững.

Hai hạng mục khác Việt Nam cũng xếp thứ hạng thấp là Ưu tiên phát triển Du lịch (98/119) và Dịch vụ du lịch, cơ sở hạ tầng (80/119). Do đó, muốn ngành du lịch phát triển bền vững và mạnh mẽ, Việt Nam cần đưa ra các giải pháp để làm tăng thứ hạng của các hạng mục trên.

Ông Phạm Hải Quỳnh cho rằng lỗ hổng lớn nhất của du lịch Việt hiện nay là chất lượng dịch vụ chưa đồng đều, tính chuyên nghiệp chưa cao. Để vá được lỗ hổng này, ngành cần đầu tư vào đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ nhân viên, hướng dẫn viên và quản lý; khuyến khích các trường đào tạo du lịch hợp tác với các doanh nghiệp để cung cấp các chương trình đào tạo bám sát thực tế.

Là người theo dõi du lịch Việt 35 năm nay, Mark Bowyer chỉ ra ngành đã thay đổi và phát triển rất nhiều. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình phát triển chính là tình trạng quá tải xây dựng, du lịch đại trà, làm suy giảm cảnh quan tự nhiên và những thứ giản dị vốn tạo nên sức hút riêng biệt của Việt Nam. Không ít điểm đến như Sa Pa, Phú Quốc hay một số vùng ven biển đang bị “bóp nghẹt” bởi các khu nghỉ dưỡng khổng lồ, khiến du khách mất đi cơ hội trải nghiệm nhịp sống chậm rãi, gần gũi cùng cộng đồng địa phương.

Người dân xem sơ duyệt diễu binh tại Hà Nội, ngày 27/8/2025. Ảnh: Ngọc Thành

Việt Nam cần cân bằng giữa phát triển hạ tầng hiện đại với việc giữ gìn “hồn cốt” của điểm đến. “Nếu không, những giá trị tạo nên sự khác biệt – cảnh sắc nguyên sơ, văn hóa đặc sắc và trải nghiệm bản địa – có nguy cơ bị chính ngành công nghiệp du lịch làm lu mờ”, Mark Bowyer nói.

Ver2Solution theo VNexpress 

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tâm Lý Học NTD

Mục tiêu GDP bình quân 10.000 USD của Việt Nam

Published

on

Chuyên gia Malaysia nhận xét về mục tiêu GDP bình quân 10.000 USD của Việt Nam

Việt Nam đang bước vào một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quá trình chuyển đổi kinh tế. Sau khi gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, nền kinh tế hiện đứng trước mục tiêu đầy tham vọng là đạt GDP bình quân đầu người 10.000 USD trong khoảng 10 năm tới. Theo nhà kinh tế trưởng toàn cầu Shan Saeed thuộc tập đoàn công nghệ bất động sản IQI Global (Malaysia), đây không chỉ là mục tiêu về quy mô thu nhập mà còn là phép thử đối với năng suất, năng lực công nghệ, chất lượng thể chế và hiệu quả điều hành chính sách.

Ba kịch bản cho cột mốc 10.000 USD

Dẫn báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 4/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), chuyên gia Shan Saeed cho biết GDP bình quân đầu người của Việt Nam tính theo USD hiện hành được dự báo đạt khoảng 5.100-5.200 USD trong năm 2026, với GDP danh nghĩa khoảng 527 tỷ USD. Để đạt mức GDP bình quân đầu người 10.000 USD, Việt Nam cần gần như tăng gấp đôi thu nhập bình quân tính theo USD, tức là gấp khoảng 1,96 lần mức hiện nay. Quá trình này không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn đòi hỏi sự cải thiện đồng thời về năng suất, uy tín tiền tệ, trình độ sản xuất, khả năng tiếp thu công nghệ, chiều sâu thể chế và hiệu quả thực thi chính sách.

Chuyên gia Shan Saeed đưa ra ba kịch bản tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) cho GDP bình quân đầu người. Trong kịch bản lạc quan, với tốc độ tăng trưởng 8,5-9,5% mỗi năm, Việt Nam có thể đạt mốc 10.000 USD trong giai đoạn 2033-2034. Trong kịch bản cơ sở, với mức tăng trưởng 7-8%/ năm, mục tiêu này có thể đạt được trong giai đoạn khoảng 2035-2036. Còn trong kịch bản thận trọng, với tốc độ tăng trưởng 5,5-6,5%/năm, mục tiêu này chỉ có thể đạt được trong giai đoạn 2037-2039.

Nền tảng kinh tế vĩ mô tạo dư địa tăng trưởng

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã đạt khoảng 8% trong năm 2025 nhờ xuất khẩu hàng chế tạo và nhu cầu nội địa khá mạnh mẽ. WB dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dự kiến sẽ đạt 6,8% trong năm 2026 và 7,1% năm 2027. Chuyên gia Shan Saeed cho rằng, Việt Nam đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác đà tăng trưởng này.

Với quy mô thương mại tương đương gần 170% GDP, Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới. Điều này tạo ra cơ hội lớn khi thương mại toàn cầu mở rộng, song cũng khiến nền kinh tế nhạy cảm hơn trước các cú sốc từ bên ngoài như suy giảm nhu cầu, rủi ro thuế quan, biến động giá hàng hóa hay áp lực đối với tỷ giá.

Các số liệu năm 2026 tiếp tục phản ánh đà tăng trưởng tích cực. GDP sáu tháng đầu năm nay tăng 8,18%, trong khi tăng trưởng quý II/2026 đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp và xây dựng đóng góp 37,66% GDP; dịch vụ chiếm 43,52%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,61%.

Ở phía cầu, tiêu dùng tăng 8,15%; tổng tích lũy tài sản tăng 15,2%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20,18%; nhập khẩu tăng 26,44%. Những chỉ số này cho thấy nền kinh tế đang được thúc đẩy đồng thời bởi sản xuất, đầu tư, tiêu dùng và nhu cầu từ thị trường bên ngoài.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là điểm sáng. Trong nửa đầu năm 2026, Việt Nam thu hút 34,65 tỷ USD vốn FDI đăng ký, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% và là mức giải ngân cao nhất của nửa đầu năm trong vòng 5 năm. Ngành chế tạo và gia công chiếm 63% tổng vốn FDI đăng ký và 82,6% vốn FDI thực hiện, qua đó củng cố vị thế của Việt Nam là một trong những điểm đến hàng đầu về đầu tư sản xuất tại châu Á.

Hoạt động thương mại cũng tiếp tục mở rộng nhanh. Trong sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu tăng 21% và nhập khẩu tăng 33,4%. Theo chuyên gia Shan Saeed, nhập khẩu tăng mạnh phản ánh nhu cầu lớn đối với hàng hóa trung gian, máy móc thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất, cho thấy hoạt động sản xuất vẫn diễn ra sôi động, song cũng đòi hỏi theo dõi chặt chẽ cán cân thương mại và quản lý ngoại hối.

Một điểm đáng chú ý khác là vai trò ngày càng lớn của thị trường trong nước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong nửa đầu năm 2026 đạt khoảng 3.889.500 tỷ đồng, tăng 12,9%; sau khi loại trừ yếu tố giá còn tăng 7,3%. Theo ông Shan Saeed, một nền tảng tiêu dùng nội địa rộng và ổn định sẽ giúp giảm bớt tác động của những biến động từ bên ngoài khi nền kinh tế tiến lên mức thu nhập cao hơn.

Bảy yếu tố quyết định quá trình chuyển đổi thu nhập

Trước hết là năng suất lao động. Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lợi thế chi phí lao động mà cần chuyển sang cạnh tranh bằng năng suất – nhân tố giúp chuyển hóa sản xuất, công nghệ, hạ tầng và vốn con người thành thu nhập cao hơn. Muốn đạt bước nhảy vọt về thu nhập, Việt Nam cần nâng cao sản lượng trên mỗi lao động, phát triển hệ thống logistics, mở rộng mạng lưới doanh nghiệp cung ứng trong nước, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa, nâng cao kỹ năng lao động và thúc đẩy phổ biến công nghệ trong toàn nền kinh tế.

Biến số thứ hai là sự ổn định của đồng tiền. Mặc dù tăng trưởng được tạo ra trong nền kinh tế nội địa, mục tiêu 10.000 USD được tính bằng đồng USD, do đó nếu đồng VND mất giá quá nhanh, thời điểm đạt cột mốc thu nhập sẽ bị kéo dài. Việc duy trì uy tín tiền tệ, kiểm soát lạm phát, quản lý cán cân thanh toán và củng cố niềm tin vào chính sách kinh tế vĩ mô là những yếu tố có ý nghĩa quyết định.

Yếu tố thứ ba là nâng cấp ngành sản xuất. Giai đoạn tiếp theo không thể chỉ dừng ở hoạt động lắp ráp mà phải hướng tới điện tử, bán dẫn, sản xuất chính xác, linh kiện công nghiệp, phần cứng phục vụ lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), dệt may giá trị cao, logistics và các nền tảng số. Theo ông Shan Saeed, quy mô sản xuất tạo nền tảng, còn mức độ tinh vi của sản xuất mới là yếu tố quyết định năng suất và thu nhập.

Biến số thứ tư là công nghệ. Tăng trưởng dài hạn của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển từ lợi thế chi phí lao động sang tăng năng suất dựa trên đổi mới sáng tạo, thông qua tự động hóa, số hóa và ứng dụng công nghệ để tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi lao động, mỗi nhà máy và mỗi đơn vị vốn. Chuyên gia này đánh  giá việc Samsung có kế hoạch xây dựng nhà máy thử nghiệm bán dẫn trị giá 1,5 tỷ USD tại Việt Nam, cùng với hoạt động hiện có của Intel, Amkor và Hana Micron, là những tín hiệu cho thấy Việt Nam đang từng bước nâng cao vai trò trong chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu.

Yếu tố thứ năm là vai trò của xuất khẩu. Động lực chính của tăng trưởng thu nhập trong dài hạn sẽ ngày càng đến từ mức độ phức tạp của ngành sản xuất, năng suất khu vực dịch vụ, năng lực công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.

Biến số thứ sáu là xu hướng “Trung Quốc+1”. Việt Nam là một trong những quốc gia hưởng lợi rõ rệt từ quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, thách thức trong giai đoạn tới không chỉ là thu hút thêm FDI mà còn phải chuyển hóa dòng vốn này thành hiệu ứng lan tỏa về năng suất, nâng cấp doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Biến số cuối cùng là tính đáng tin cậy của chính sách tiền tệ và tài khóa. Đầu tư hạ tầng sẽ góp phần nâng cao tăng trưởng tiềm năng nếu giúp giảm các điểm nghẽn về logistics, cải thiện hệ thống cảng biển, điện, giao thông và kết nối số. Tín dụng cần được phân bổ hiệu quả, lạm phát phải được kiểm soát và dư địa tài khóa cần được duy trì, bởi quá trình chuyển đổi thu nhập sẽ không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng mà còn được quyết định bởi hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.

Bên cạnh triển vọng tích cực, chuyên gia Shan Saeed cũng chỉ ra một số rủi ro có thể làm chậm quá trình chuyển đổi thu nhập của Việt Nam, gồm sự mạnh lên của đồng USD, nhu cầu điện tử toàn cầu suy yếu, căng thẳng thuế quan leo thang, tăng trưởng chậm lại của kinh tế Trung Quốc, biến động giá hàng hóa, thâm hụt thương mại kéo dài và sự mất giá quá mức của đồng VND. Bất kỳ sự kết hợp nào của các yếu tố này đều có thể làm suy giảm năng suất, động lực đầu tư hoặc sự ổn định của tỷ giá, từ đó kéo chậm tiến trình nâng cao thu nhập.

Từ những phân tích trên, ông Shan Saeed cho rằng giai đoạn tới cần được dẫn dắt bởi năng suất cao hơn, trình độ sản xuất phức tạp hơn, thể chế vững mạnh hơn và đổi mới công nghệ bền vững – đây chính là những yếu tố quyết định liệu Việt Nam có thể tiến tới mục tiêu trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045 hay không.

Ver2Solution theo TTXVN

Continue Reading

Trong Nước

TikTok đang làm gì để hạ bệ TMĐT truyền thống

Published

on

84% người dùng Việt “xuống tiền” chỉ sau vài video ngắn: TikTok đang làm gì để “hạ bệ” các sàn thương mại điện tử truyền thống? TikTok đang làm thay đổi hành trình mua sắm truyền thống khi biến những phút giải trí thành động lực thúc đẩy hàng triệu người tiêu dùng đưa ra quyết định mua hàng chỉ sau vài video ngắn.

Chỉ vài năm trước, hành trình mua sắm của phần lớn người tiêu dùng thường bắt đầu bằng một nhu cầu cụ thể. Khi cần mua một món đồ, họ sẽ chủ động tìm kiếm trên Google, tham khảo đánh giá rồi mới quyết định đặt hàng.

Thế nhưng với sự bùng nổ của TikTok, quy trình đó đang dần đảo ngược. Ngày nay, nhiều người không mua vì có nhu cầu trước, mà nảy sinh nhu cầu sau khi xem một video vài chục giây trên màn hình điện thoại.

Sự thay đổi này không chỉ diễn ra ở một nhóm người dùng nhất định mà đã trở thành xu hướng toàn cầu. Theo khảo sát của PartnerCentric công bố năm 2025, 37% người dùng TikTok đã mua ít nhất một sản phẩm thông qua TikTok Shop trong vòng sáu tháng và nhóm người mua này chi tiêu trung bình khoảng 708 USD mỗi năm trên nền tảng.

Nghiên cứu cũng cho thấy sự tiện lợi khi mua hàng trực tiếp trong ứng dụng là một trong những lý do quan trọng nhất thúc đẩy hành vi tiêu dùng.

Không còn đơn thuần là một nền tảng giải trí, TikTok đang dần trở thành một “trung tâm thương mại” mới, nơi giải trí, quảng cáo và mua sắm hòa trộn vào nhau.

84% người dùng Việt "xuống tiền" chỉ sau vài video ngắn: TikTok đang làm gì để “hạ bệ” các sàn thương mại điện tử truyền thống?- Ảnh 2.

Mua sắm bắt đầu từ những video giải trí

Nếu như trước đây người tiêu dùng tìm kiếm sản phẩm trước rồi mới xem nội dung liên quan, TikTok đã khiến quá trình này diễn ra theo chiều ngược lại. Người dùng lướt bảng tin “For You” để giải trí nhưng lại vô tình bắt gặp những video đánh giá sản phẩm, trải nghiệm thực tế, hướng dẫn sử dụng hay các phiên livestream bán hàng.

Theo dữ liệu được TikTok công bố trong báo cáo “Path to Purchase”, 37% người dùng cho biết họ đã nhìn thấy một sản phẩm trên TikTok và mua ngay sau đó, trong khi 35% từng mua một món hàng xuất hiện trên nền tảng.

Bên cạnh đó, khảo sát của Omnisend với hơn 2.000 người dùng mạng xã hội cho thấy 52% người được hỏi từng mua hàng sau khi được truyền cảm hứng từ nội dung trên mạng xã hội, còn 45% dễ mua hơn với những sản phẩm đang là xu hướng trực tuyến.

Các video “Before & After”, hashtag #TikTokMadeMeBuyIt hay những clip “Shop With Me” nằm trong nhóm nội dung có sức ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định mua sắm.

Là một người thường xuyên mua sắm trên TikTok Shop, Huy Hoàng (24 tuổi, Hà Nội) cho biết anh gần như không còn tìm kiếm sản phẩm theo cách truyền thống.

“Tôi mở TikTok chủ yếu để giải trí nhưng cứ xem vài video là lại thấy những món đồ hay ho xuất hiện. Có những thứ trước đó tôi chưa từng nghĩ đến việc mua, nhưng sau khi xem nhiều người dùng thử và đánh giá tích cực thì lại đặt hàng luôn”, Hoàng chia sẻ.

Theo Hoàng, các sản phẩm anh từng mua nhiều nhất gồm đồ công nghệ nhỏ gọn, phụ kiện điện thoại, đồ gia dụng thông minh và các vật dụng phục vụ sinh hoạt hằng ngày.

Trên thực tế, yếu tố tạo nên sức mạnh đặc biệt của TikTok nằm ở hệ thống đề xuất nội dung được cá nhân hóa rất sâu. Thuật toán liên tục ghi nhận hành vi của người dùng như thời gian xem video, lượt thích, bình luận, chia sẻ hay theo dõi tài khoản để xác định sở thích cá nhân.

Điều này lý giải vì sao nhiều người có cảm giác TikTok “đọc được suy nghĩ” của mình. Chỉ cần dừng lại vài giây trước một video giới thiệu mỹ phẩm, đồ công nghệ hay sản phẩm gia dụng, người dùng sẽ nhanh chóng được đề xuất thêm hàng loạt nội dung tương tự.

“Tôi từng xem vài video về máy pha cà phê mini. Sau đó TikTok liên tục gợi ý các video so sánh, đánh giá và livestream bán sản phẩm này. Khoảng một tuần sau tôi quyết định mua luôn dù ban đầu chỉ tò mò xem thử”, Huy Hoàng kể.

84% người dùng Việt "xuống tiền" chỉ sau vài video ngắn: TikTok đang làm gì để “hạ bệ” các sàn thương mại điện tử truyền thống?- Ảnh 3.

Thiết bị công nghệ mà Hoàng đã mua

Khi giải trí và mua sắm không còn ranh giới

Tại Việt Nam, tác động của TikTok đối với thương mại điện tử đang ngày càng rõ nét. Theo dữ liệu từ Metric được nhiều cơ quan báo chí dẫn lại, TikTok Shop đã nâng thị phần thương mại điện tử tại Việt Nam lên khoảng 39% trong năm 2025, tăng mạnh so với mức 29% của năm trước.

Trong khi đó, Shopee giảm từ 63% xuống còn 58%. Hai nền tảng hiện chiếm tới 97% thị phần thương mại điện tử đa ngành trong nước.

Các chuyên gia cho rằng sự tăng trưởng này phản ánh xu hướng “shoppertainment”, hay còn gọi là mua sắm kết hợp giải trí. Thay vì truy cập một sàn thương mại điện tử để tìm sản phẩm, người dùng vừa xem nội dung vừa có thể đặt hàng ngay trên cùng một ứng dụng.

Sự thuận tiện đó cũng kéo theo những hệ quả mới. Nhiều người thừa nhận họ thường xuyên mua sắm theo cảm hứng hoặc chạy theo xu hướng. Huy Hoàng cũng thừa nhận bản thân từng nhiều lần rơi vào tình trạng này.

“Có những món đồ tôi thấy rất hấp dẫn khi xem livestream nhưng sau khi nhận hàng lại dùng rất ít. Bây giờ trước khi mua tôi thường để sản phẩm trong giỏ hàng vài ngày rồi mới quyết định”, anh nói.

Xu hướng mua sắm thông qua nội dung giải trí cũng được các chuyên gia trong lĩnh vực thương mại điện tử ghi nhận là một trong những thay đổi lớn nhất của thị trường những năm gần đây.

Tại một hội thảo về chiến lược để bứt phá trên social commerce, ông Lê Thanh Bình, đại diện TikTok Shop Việt Nam, cho rằng mô hình “Shoppertainment” đang mở ra một cách thức mua sắm hoàn toàn mới, nơi người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm thông qua trải nghiệm nội dung trước khi đưa ra quyết định mua hàng.

Báo cáo được công bố tại sự kiện cũng cho thấy 69% người dùng Việt Nam ưu tiên xem video ngắn để tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ, trong khi 84% từng bị thuyết phục mua hàng sau khi xem nội dung video.

Những con số này cho thấy ranh giới giữa giải trí và mua sắm đang ngày càng mờ đi, đồng thời phản ánh sự thay đổi rõ nét trong hành vi tiêu dùng của người Việt dưới tác động của TikTok và các nền tảng social commerce.

Từ một nền tảng giải trí dành cho video ngắn, TikTok đang dần thay đổi cách con người khám phá sản phẩm, tiếp cận quảng cáo và đưa ra quyết định mua sắm. Nếu trước đây người tiêu dùng chủ động tìm kiếm sản phẩm, thì giờ đây chính thuật toán và nội dung cá nhân hóa đang chủ động tìm đến họ.

Trong cuộc cạnh tranh của thương mại điện tử hiện đại, có lẽ thứ quyết định không còn là ai bán sản phẩm tốt hơn, mà là ai kể câu chuyện hấp dẫn hơn trên màn hình điện thoại của người dùng.

Ver2Solution theo CafeF

Continue Reading

Trong Nước

Bộ Y tế thu hồi 45 mỹ phẩm nhập khẩu

Published

on

Cục Quản lý Dược đình chỉ lưu hành, thu hồi 45 mỹ phẩm toàn quốc do vi phạm quy định về hồ sơ công bố và công thức, trong đó có nhiều mặt hàng nổi tiếng như sữa rửa mặt Hadalabo, kem chống nắng Anessa.

Quyết định ban hành ngày 15/6 nêu rõ danh sách này bao gồm nhiều mặt hàng quen thuộc như sữa rửa mặt Hadalabo, kem chống nắng Anessa, kem đánh răng Aquafresh cùng các sản phẩm chăm sóc da, tóc khác…

Cơ quan chức năng yêu cầu các đơn vị liên quan phải hoàn tất việc thu hồi, tiêu hủy toàn bộ sản phẩm vi phạm và báo cáo kết quả trước ngày 15/7. Động thái này diễn ra sau đợt kiểm tra thực tế vào tháng 3/2026 đối với các doanh nghiệp chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường.

Nguyên nhân chính dẫn đến đợt thu hồi quy mô lớn này là do doanh nghiệp không cung cấp đầy đủ Hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF) theo quy định pháp luật. Một số mặt hàng có công thức thành phần thực tế không đúng với nội dung đã công bố với cơ quan quản lý.

Danh sách các mỹ phẩm bị thu hồi:

STT Tên sản phẩm Số tiếp nhận Ngày cấp
1 Propolinse matcha 277031/25/CBMP-QLD 26/05/2025
2 Bigen Cream Tone.3G 270567/25/CBMP-QLD 30/03/2025
3 Bigen Cream Tone.4G 270414/25/CBMP-QLD 30/03/2025
4 Bigen Cream Tone.5G 270581/25/CBMP-QLD 30/03/2025
5 Bigen Cream Tone.6G 270568/25/CBMP-QLD 30/03/2025
6 Bigen Cream Tone.7G 270415/25/CBMP-QLD 30/03/2025
7 Meishoku Bigan Medicated Skin Lotion 270559/25/CBMP-QLD 30/03/2025
8 Hadalabo foaming facial cleanser 270618/25/CBMP-QLD 01/04/2025
9 Waki Guard Số PCB: 270576/25/CBMP-QLD 30/03/2025
10 Rosette Gommage Clear Peel Số PCB: 270594/25/CBMP-QLD 30/03/2025
11 Rosette Gommage Bright Peel Số PCB: 270587/25/CBMP-QLD 30/03/2025
12 Propolinse Sakura Số PCB: 277030/25/CBMP-QLD 26/05/2025
13 Men’s Bigen One Push 5 Natural Số PCB: 271051/25/CBMP-QLD 05/04/2025
14 Men’s Bigen One Push 6S Natural Shadow – Số PCB: 271056/25/CBMP-QLD 05/04/2025
15 Anessa sunsereen lotion for oil-controlling skin Số PCB: 270563/25/CBMP-QLD 30/03/2025
16 Anessa whitening sunscreen milk Số PCB: 271055/25/CBMP-QLD 05/04/2025
17 Anessa perfert UV Sunscreen Số PCB: 270578/25/CBMP-QLD 30/03/2025
18 Baby Poweder (Pressed) (Medicated) Số PCB: 270566/25/CBMP-QLD 30/03/2025
19 Aquafresh Clear Mint Số PCB: 271049/25/CBMP-QLD 05/04/2025
20 Aquafresh Soft Mint Số PCB: 270579/25/CBMP-QLD 30/03/2025

Công ty TNHH Alice Cao (Hà Nội) đứng đầu danh sách với 20 sản phẩm bị thu hồi. Đáng chú ý có sữa rửa mặt Hadalabo Foaming Facial Cleanser, kem chống nắng Anessa Perfect UV Sunscreen và kem đánh răng Aquafresh Clear Mint. Phần lớn các sản phẩm này được cấp số tiếp nhận phiếu công bố mỹ phẩm trong giai đoạn tháng 3-4/2025.

Một đơn vị khác tại Hà Nội là Công ty TNHH Xuất nhập khẩu và Bán lẻ Hồng Lâm cũng phải tiêu hủy 9 sản phẩm, trong đó 8 loại thuộc thương hiệu ReiHaku Hatomugi của Nhật Bản như nước tẩy trang, sữa rửa mặt và kem dưỡng ẩm.

Tại TP HCM, Công ty TNHH IWON Việt Nam phải thu hồi 10 sản phẩm thương hiệu TIA’M, gồm sữa rửa mặt Snail & Azulene Low pH Cleanser, tinh chất Pore Minimizing 21 Serum và kem dưỡng Deep Hydration Glow Cream.

Riêng dòng kem dưỡng Luvum Green Citrus Vitamin C Gel Cream Plus của đơn vị này bị xác định sai phạm về công thức so với hồ sơ gốc.

Ngoài ra, Công ty TNHH X.C.G.G phải thu hồi 6 loại mỹ phẩm, bao gồm tinh chất TIA’M Vita A Bakuchiol Youth Serum và kem nền V&A Beauty Long-Wear Cushion Foundation do lỗi hồ sơ.

Theo chuyên gia, sản phẩm có công thức thực tế không khớp với hồ sơ công bố có thể ảnh hưởng đến chất lượng, nguy cơ dị ứng hoặc tác dụng phụ cho người dùng. Việc thiếu hụt Hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF) cũng khiến cơ quan chức năng khó kiểm chứng nguồn gốc nguyên liệu và mức độ an toàn hóa học trên da người Việt.

Cục Quản lý Dược khuyến cáo người tiêu dùng dừng ngay việc sử dụng các sản phẩm thuộc danh mục nêu trên để đảm bảo an toàn sức khỏe. Theo ông Tạ Mạnh Hùng, Phó Cục trưởng Quản lý Dược, việc mạnh tay xử lý các lô hàng sai phạm thời gian qua giúp thắt chặt kiểm soát chất lượng mỹ phẩm lưu thông. Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ mỹ phẩm vi phạm chất lượng hiện đã giảm xuống mức dưới 1,5% trên tổng số hơn 3.000 mẫu kiểm tra.

Ver2Solution theo Vnexpress

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .