Connect with us

Trong Nước

Du lịch Việt leo lên top 3 khu vực

Published

on

Sau 65 năm, du lịch Việt Nam từ “số 0” đã trở thành một trong những điểm đến đông khách nhất khu vực, chỉ sau Thái Lan và Malaysia, du lịch Việt leo lên top 3 khu vực.

“Những năm 1970, khách Tây ở Hà Nội ít lắm, không như bây giờ ra ngõ là gặp”, bà Vũ Thị Khiêm, nguyên Trưởng phòng Nghiệp vụ của Tổng công ty Du lịch Hà Nội (Hanoitourist), nhớ lại. Bà Khiêm bắt đầu làm tại Hanoitourist từ năm 1972, được giao nhiệm vụ thử và kiểm định chất lượng món ăn trước khi mang lên phục vụ các đoàn khách quốc tế của Chính phủ những năm bao cấp. Thời kỳ này, khách nội địa du lịch trong nước “còn ít nữa là khách quốc tế”.

Sau 65 năm thành lập và phát triển, hiện tại, du lịch Việt vượt qua Singapore, vào top 3 điểm đến hút khách nhất Đông Nam Á, sau Thái Lan và Malaysia, khi đón 17,6 triệu lượt khách vào năm 2024.

Những ngày đầu đón khách

Ngày 9/7/1960 đánh dấu bước khởi đầu của du lịch Việt, khi Công ty Du lịch Việt Nam được thành lập. Khi đó, đất nước còn chia cắt, chức năng chủ yếu của ngành là phục vụ các đoàn khách quốc tế, chuyên gia, theo Cục Du lịch Quốc gia.

Sau khi hòa bình lập lại vào năm 1975, Việt Nam bước vào thời kỳ Đổi mới (1986), du lịch vẫn chưa phát triển, chính sách đón khách quốc tế còn nhiều hạn chế.

Ông Nguyễn Quốc Kỳ, hiện là Chủ tịch HĐQT Vietravel, làm tại Công ty Du lịch TP HCM (Saigontourist) vào những năm 1980, cho biết khi đó du khách hầu như không thể đi tự túc, mà phải thông qua các công ty lữ hành quốc doanh như Saigontourist, Hanoitourist. Khách muốn đến phải có thư mời, xin thị thực qua cơ quan đại diện ngoại giao, hành trình thường được sắp xếp sẵn, ít linh hoạt.

Khó khăn lớn nhất của ngành du lịch Việt Nam vào thời điểm Đổi mới là bài toán tìm kiếm nguồn khách. Thị trường gần như chỉ trông vào khách Đông Âu. Các thế hệ đầu tiên của trong ngành đã phải trăn trở, tìm cách mở cánh cửa mới như tham dự các hội chợ du lịch tại Thái Lan nhằm quảng bá và thu hút khách.

Ông Alain Tấn Huynh, 72 tuổi, người Mỹ gốc Việt, về Hà Nội vào tháng 4/1989 cho biết nếu không có giấy phép đi lại do Chính phủ cấp, ông không thể đặt khách sạn.

“Mọi chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam khi đó đều phải qua Thái Lan xin visa rời”, ông nói. Trong khi đó, Du lịch Thái Lan lúc này “đã rất phát triển”, với dịch vụ lưu trú, ăn uống đủ tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế.

Đến Hà Nội, điều đầu tiên ông Tấn làm là tìm một tô phở, nhưng thành phố khi ấy chỉ phổ biến phở gà. Cà phê cũng khan hiếm và chỉ bán trong khách sạn. Cửa hàng trên phố chủ yếu bán nước chè và kẹo lạc.

Mark Bowyer, người Australia, lần đầu đưa 12 khách nước ngoài đến Việt Nam vào năm 1993. Mark nhớ lại đường sá tại Việt Nam thời kỳ này “rất tệ”, khách sạn của họ ở Quảng Ngãi còn chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, Mark không nghe lời phàn nàn nào từ khách. Họ đều nghĩ đó là một cái giá rất nhỏ để được trải nghiệm Việt Nam vào thời điểm đặc biệt như thế.

Theo ông Kỳ, những năm này hệ thống lưu trú cũng chưa phát triển, số khách sạn đạt chuẩn để phục vụ khách quốc tế “chỉ đếm trên đầu ngón tay”, tập trung tại Hà Nội, TP HCM và thêm vài thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, Nha Trang. Những cái tên quen thuộc có thể kể đến là khách sạn Rex, Majestic, Caravelle (TP.HCM), Metropole, khách sạn Thắng Lợi (Hà Nội).

Năm 1994, Mỹ tuyên bố dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam, mở ra chương mới cho ngành du lịch. Đây cũng là thời điểm Việt Nam hội nhập nhanh chóng với thế giới khi liên tiếp tham gia các khối như ASEAN, APEC, WTO. Nguyên vụ trưởng ASEAN Đỗ Ngọc Sơn cho biết du lịch Việt Nam có hai lợi thế lớn khi gia nhập. Thứ nhất, nhờ cơ chế miễn visa trong khối, khách dễ dàng nhập cảnh Việt Nam hơn. Thứ hai, Việt Nam là nước gia nhập sau, người dân các nước khác trong khối tò mò về điểm đến mới này, vì thế cũng đổ xô đến.

Theo Cục du lịch Quốc gia, lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 1990 đạt 250.000 lượt, chủ yếu là khách công vụ. Năm 1995, năm đầu tiên sau khi dỡ bỏ cấm vận, Việt Nam đón 1,35 triệu lượt khách quốc tế, tăng gấp 5 lần so với 5 năm trước.

Về hàng không, Việt Nam thời kỳ này vẫn chưa có nhiều đường bay thẳng kết nối với các điểm đến trên thế giới. Cuối năm 2003, Việt Nam ký hiệp định hàng không với Mỹ. Tuy nhiên, phải mất gần 20 năm, đến 2021, Việt Nam mới mở được đường bay thẳng (bay thương mại) từ Việt Nam đến Mỹ, chặng TP HCM – San Francisco, nguyên nhân do rào cản pháp lý và chi phí khai thác cao.

Tháng 2/2019, Cục hàng không Liên bang Mỹ (FAA) cấp chứng chỉ giám sát an toàn hàng không cho Cục Hàng không Việt Nam. Với chứng chỉ này, các hãng hàng không trong nước chưa thể mở ngay đường bay thẳng nhưng có thể hợp tác liên danh với các hãng bay lớn của nước ngoài đang thực hiện nay thẳng đến Mỹ, mở ra cơ hội mới cho du lịch Việt.

Hơn 20 năm sau khi được bỏ cấm vận, ngành du lịch Việt mới bắt đầu hưởng thành quả từ các nỗ lực ngoại giao, mở cửa và đổi mới trong chính sách hút khách. 2016 là năm đánh dấu bước ngoặt mới, khi Việt Nam lần đầu đón lượng khách quốc tế đạt hai con số, với 10 triệu lượt khách.

Lên đỉnh cao rồi về lại ‘số 0’

Du lịch Việt bước vào thời kỳ hoàng kim năm 2019, đón kỷ lục 18 triệu lượt khách quốc tế và doanh thu đóng góp hơn 9% vào GDP. Tốc độ tăng trưởng bình quân khách quốc tế của Việt Nam đạt 22,7%, được Tổ chức Du lịch Thế giới xếp vào nhóm các quốc gia có tăng trưởng cao.

Tuy nhiên, đà tăng trưởng của ngành du lịch đã bị chặn đứng bởi đại dịch Covid-19. Việc thế giới đóng cửa biên giới đã khiến lượng khách sụt giảm nghiêm trọng, đẩy ngành du lịch từ thời kỳ hoàng kim trở về “số 0”.

Dù Việt Nam đã mở cửa trở lại để đón khách quốc tế từ ngày 15/3/2022, sự phục hồi trong năm đó vẫn rất hạn chế do nhiều thị trường nguồn quan trọng, trong đó có Trung Quốc, vẫn duy trì chính sách đóng cửa biên giới.

Phục hồi và thách thức

Từ năm 2022, Chính phủ liên tục đưa ra các chính sách nới lỏng visa, cấp e-visa cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến nay, Việt Nam nâng quốc gia miễn thị thực đơn phương lên 24, chủ yếu là các nước châu Âu và top thị trường gửi khách lớn đến Việt Nam như Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Viện trưởng Phát triển Du lịch châu Á Phạm Hải Quỳnh đánh giá từ 2023, du lịch Việt đã “nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng và có những thành quả ấn tượng”, một phần nhờ chính sách thị thực cởi mở, nhiều lễ hội, sự kiện được tổ chức, thu hút du khách.

Cuối năm 2024, ngành du lịch Việt đón 17,6 triệu lượt khách quốc tế, là quốc gia có tỷ lệ phục hồi du lịch năm 2024 tốt nhất Đông Nam Á, với mức phục hồi đạt 98%. Việt Nam cũng đứng top 3 điểm đến hút khách nhất Đông Nam Á năm 2024, sau Malaysia với 38 triệu lượt khách, Thái Lan với 35,5 triệu.

CEO tập đoàn công nghệ Nvidia Jensen Huang (áo đen) giao lưu với người dân khi đi ăn khuya tại phố tây Tạ Hiện, Hà Nội hồi tháng 12/2024. Ảnh: Giang Huy

Càng ngày hình ảnh Việt Nam được nhiều du khách quốc tế biết đến hơn. Người nổi tiếng, các tỷ phú cũng bắt đầu chọn Việt Nam là điểm đến cho các chuyến du lịch, nghỉ dưỡng và tổ chức đám cưới. Những người nổi tiếng từng đặt chân đến Việt Nam phải kể đến tỷ phú Mỹ Bill Gates, tỷ phú Anh Joe Lewis, ông chủ Facebook Mark Zuckerberg.

Ngành du lịch và các điểm đến tại Việt Nam cũng bắt đầu nhận “mưa” giải thưởng từ các tổ chức uy tín trên thế giới như Tripadvisor, Sky Trax. Năm 2024, Việt Nam dành 48 giải thưởng trong khuôn khổ World Travel Awards.

Tại hội nghị tổng kết công tác năm 2024 của Bộ VHTTDL, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá lĩnh vực du lịch là điểm sáng trong bức tranh phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, khi hoàn thành chỉ tiêu đón 17,6 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu du lịch đạt 840.000 tỷ đồng.

8 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 14 triệu người, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn lượng khách quốc tế cả năm 2017 (12,9 triệu lượt).

Theo ông Quỳnh, Việt Nam có ba yếu tố quan trọng gồm thiên nhiên, lịch sử và văn hóa để hút khách quốc tế. Việt Nam cũng đầu tư mạnh vào hệ thống giao thông và cơ sở vật chất, nhiều tuyến đường cao tốc, sân bay, cảng biển được xây dựng giúp việc di chuyển dễ dàng hơn. Hệ thống khách sạn, resort chất lượng cao phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của mọi phân khúc khách hàng.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trương Hoàng, Trưởng khoa Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, năm 2025, ngành du lịch đã thực sự trở lại đường đua của những ngành kinh tế quan trọng nhất tại Việt Nam. Nếu duy trì tốc độ tăng trưởng đón khách quốc tế ở mức 20% của năm 2024, đến năm 2030 ngành có thể đón hơn 60 triệu lượt khách, vượt xa con số 50 triệu lượt trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2020-2030, bất chấp đại dịch đã kéo lùi 3-4 năm tăng trưởng.

Tuy nhiên, ông Hoàng đánh giá ngành du lịch hiện nay giống như “chiếc lò xo được tháo nén”. Do đó, để có thể tăng trưởng bền vững, ngành du lịch cần có những đánh giá, nghiên cứu về thành quả này để tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới, bên cạnh số lượng khách quốc tế, như tiềm năng du lịch, năng lực kinh doanh, quản lý du lịch, quảng bá điểm đến.

Trong báo cáo về Chỉ số Phát triển Du lịch và Lữ hành (TTDI) của Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố năm 2024, Việt Nam yếu nhất về chỉ số Ảnh hưởng kinh tế – xã hội của du lịch khi đứng thứ 115 trên 119 quốc gia, vùng lãnh thổ. Chỉ số này gồm 4 nội dung: đóng góp của Du lịch vào GDP và việc làm; tính bao trùm xã hội (mọi người cùng được hưởng lợi từ du lịch); phân bổ lợi ích kinh tế và ảnh hưởng đến phát triển bền vững.

Hai hạng mục khác Việt Nam cũng xếp thứ hạng thấp là Ưu tiên phát triển Du lịch (98/119) và Dịch vụ du lịch, cơ sở hạ tầng (80/119). Do đó, muốn ngành du lịch phát triển bền vững và mạnh mẽ, Việt Nam cần đưa ra các giải pháp để làm tăng thứ hạng của các hạng mục trên.

Ông Phạm Hải Quỳnh cho rằng lỗ hổng lớn nhất của du lịch Việt hiện nay là chất lượng dịch vụ chưa đồng đều, tính chuyên nghiệp chưa cao. Để vá được lỗ hổng này, ngành cần đầu tư vào đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ nhân viên, hướng dẫn viên và quản lý; khuyến khích các trường đào tạo du lịch hợp tác với các doanh nghiệp để cung cấp các chương trình đào tạo bám sát thực tế.

Là người theo dõi du lịch Việt 35 năm nay, Mark Bowyer chỉ ra ngành đã thay đổi và phát triển rất nhiều. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình phát triển chính là tình trạng quá tải xây dựng, du lịch đại trà, làm suy giảm cảnh quan tự nhiên và những thứ giản dị vốn tạo nên sức hút riêng biệt của Việt Nam. Không ít điểm đến như Sa Pa, Phú Quốc hay một số vùng ven biển đang bị “bóp nghẹt” bởi các khu nghỉ dưỡng khổng lồ, khiến du khách mất đi cơ hội trải nghiệm nhịp sống chậm rãi, gần gũi cùng cộng đồng địa phương.

Người dân xem sơ duyệt diễu binh tại Hà Nội, ngày 27/8/2025. Ảnh: Ngọc Thành

Việt Nam cần cân bằng giữa phát triển hạ tầng hiện đại với việc giữ gìn “hồn cốt” của điểm đến. “Nếu không, những giá trị tạo nên sự khác biệt – cảnh sắc nguyên sơ, văn hóa đặc sắc và trải nghiệm bản địa – có nguy cơ bị chính ngành công nghiệp du lịch làm lu mờ”, Mark Bowyer nói.

Ver2Solution theo VNexpress 

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trong Nước

Hải Phòng thúc đẩy phát triển thương mại điện tử

Published

on

Theo kế hoạch về phát triển thương mại điện tử trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2026 vừa được chính quyền thành phố ban hành, thành phố đặt mục tiêu duy trì tốc độ phát triển thương mại điện tử của Hải Phòng trong nhóm dẫn đầu cả nước.

Thành phố Hải Phòng kỳ vọng sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại điện tử thông qua các chỉ số định lượng cụ thể.

Theo đó, phấn đấu tỷ lệ dân số trưởng thành tham gia mua sắm trực tuyến đạt từ 65-68%; doanh số bán lẻ thương mại điện tử tăng trưởng mạnh mẽ từ 20-25% so với năm 2025, đóng góp khoảng 17-20% vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của thành phố; 100% thủ tục hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử được giải quyết đúng và trước hạn; đồng thời, nỗ lực giảm tỷ lệ website vi phạm quyền lợi người tiêu dùng xuống dưới 10%; tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử đạt khoảng 65-70%.

Đáng chú ý, thành phố thúc đẩy mạnh mẽ hóa đơn điện tử với mục tiêu trên 85% giao dịch thương mại điện tử sử dụng loại hình này; tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong thương mại điện tử phấn đấu đạt từ 75-80%; đào tạo, tập huấn kỹ năng thương mại điện tử cho khoảng 6.000-8.000 lượt cán bộ quản lý và tổ chức, cá nhân.

Có 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được đề ra, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp. Cụ thể là: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thương mại điện tử với việc thành phố sẽ tập trung rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính đồng bộ với Luật Thương mại điện tử; xây dựng quy chế phối hợp quản lý và phát triển hoạt động thương mại điện tử trên địa bàn; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi gian lận, hàng giả, hàng nhái trên môi trường mạng; tăng cường quản lý thuế đối với kinh doanh nền tảng số để chống thất thu ngân sách.

Cùng với đó là phát triển thương mại điện tử trong doanh nghiệp và cộng đồng, được xem là giải pháp mang tính đòn bẩy nhằm hỗ trợ mở rộng thị trường cho các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP và hàng hóa làng nghề truyền thống. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thương mại điện tử, trong đó khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng trên địa bàn tích hợp nội dung thương mại điện tử vào chương trình giảng dạy, với mục tiêu đạt tỷ lệ hơn 55% cơ sở thực hiện.

Thành phố cũng tiếp tục thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại các cơ sở phân phối, chợ truyền thống và trong thanh toán dịch vụ công như điện, nước…

Ver2Solution theo Báo Nhân Dân

Continue Reading

Trong Nước

Doanh thu tăng trên 11% trong tháng 4/2025 các dịch vụ tiêu dùng phục vụ cho mùa du lịch hè

Published

on

Nhu cầu tiêu dùng, mùa du lịch hè của người dân tăng trong các kỳ nghỉ lễ, Tết cùng với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao là các nhân tố đóng góp tích cực cho tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ…

Theo số liệu công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2025 ước tăng 11,1% trong mùa du lịch hè so với cùng kỳ năm trước.

Mức tăng 2 con số được Cục Thống kê chỉ ra là do nhu cầu tiêu dùng, du lịch của người dân tăng trong các kỳ nghỉ lễ, Tết cùng với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao là các nhân tố đóng góp tích cực cho tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ từ đầu năm đến nay.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,9% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 24,5%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 4/2025 ước đạt 582,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, doanh thu nhóm hàng vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 10,9%; lương thực, thực phẩm tăng 10,0%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,9%; hàng may mặc tăng 6,6%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 18,8%; du lịch lữ hành tăng 46,1%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.285,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,6%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,7% (cùng kỳ năm 2024 tăng 5,4%).

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.752.5 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,7% tổng mức và tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, nhóm hàng vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 12,6%; lương thực, thực phẩm tăng 9,8%; may mặc tăng 7,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,9%.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Hải Phòng tăng 9,0%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,5%; Cần Thơ tăng 8,1%; Đà Nẵng tăng 7,7%; Hà Nội tăng 7,4%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành 4 tháng đầu năm giai đoạn 2021-2025. Nguồn: Cục Thống kê.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành 4 tháng đầu năm giai đoạn 2021-2025. Nguồn: Cục Thống kê.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 270,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Ninh tăng 19,4%; Đà Nẵng tăng 18,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 15,9%; Hà Nội tăng 15,8%; Hải Phòng tăng 15,2%; Cần Thơ tăng 11,1%.

Đặc biệt, chính sách thị thực thuận lợi, các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch được đẩy mạnh cùng với tổ chức các ngày lễ lớn của dân tộc đã thu hút khách quốc tế đến Việt Nam tiếp tục tăng cao.

Trong tháng 4/2025, số lượng khách quốc tế đến nước ta đạt 1,65 triệu lượt người, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 7,67 triệu lượt người, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 30,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3% tổng mức và tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu du lịch của người dân tăng cao trong các ngày lễ, Tết và đặc biệt là đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Một số địa phương có doanh thu 4 tháng đầu năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, gồm: Đồng Nai tăng 29,7%; Hà Nội tăng 25,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 25,3%; Quảng Ninh tăng 23,5%; Đà Nẵng tăng 22,3%; Bình Dương tăng 19,9%.

Doanh thu dịch vụ khác 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 232,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,2% tổng mức và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương đạt doanh thu bốn tháng đầu năm 2025 cao, gồm: Cần Thơ tăng 27,5%; Quảng Ninh tăng 13,6%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,0%; Khánh Hòa tăng 11,1%; Hà Nội tăng 6,9%; Hải Phòng tăng 5,6%.

Ver2Solution theo Vneconomy 

Continue Reading

Trong Nước

Xu hướng thói quen tiêu dùng người Việt năm 2026

Published

on

Ver2Solution phân tích tổng hợp dữ liệu nghiên cứu từ nhiều nguồn uy tín, chúng tôi đánh giá từ năm 2026 thói quen tiêu dùng của người Việt đã dịch chuyển mạnh mẽ từ việc “tích trữ tài sản” sang “tích lũy giá trị sống”. Sự thay đổi này không hẳn là không tiết kiệm, mà là một kiểu tiết kiệm có tính toán (Calculated Spending): họ sẵn sàng cắt giảm những chi phí lãng phí, rập khuôn để dồn tiền vào những thứ mang lại hạnh phúc tức thì và sự phát triển cá nhân.

Dưới đây là chi tiết các hành vi và thói quen tiêu dùng mới nhất đang định hình thị trường Việt Nam:

1. Tư duy “Me-first” & “Self-love” (Ưu tiên bản thân)

Thay vì hy sinh mọi thứ cho tương lai xa vời hoặc cho vẻ ngoài hào nhoáng để người khác ngắm nhìn, người tiêu dùng (đặc biệt là Gen Z và Millennials) tập trung vào sự thỏa mãn của chính mình.

  • Chi cho sức khỏe tinh thần: Doanh số các sản phẩm như nến thơm, trà thảo mộc, các ứng dụng thiền định và các buổi workshop chữa lành tăng vọt.

  • Chăm sóc sức khỏe chủ động: Gần 56% người Việt dự định tăng chi cho y tế và thực phẩm chức năng. Họ không đợi có bệnh mới chữa mà chi tiền cho việc tầm soát, dinh dưỡng cá nhân hóa và các thiết bị theo dõi sức khỏe đeo tay.

2. Dịch chuyển từ “Sở hữu” sang “Trải nghiệm”

Người Việt bắt đầu nhận ra vật chất có thể mất giá, nhưng ký ức thì không.

  • Du lịch cá nhân hóa (Tailor-made travel): Không còn chuộng đi tour đoàn đông đúc. Xu hướng năm 2026 là các tour trekking, du lịch bảo tồn, hoặc các chuyến đi “không lịch trình” để tự mình khám phá văn hóa bản địa.

  • Ẩm thực trải nghiệm: Khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn cho một bữa ăn có “câu chuyện”, có không gian thiết kế độc đáo hoặc quy trình chế biến biểu diễn tại bàn thay vì chỉ là ăn no.

3. Tiêu dùng “Đủ dùng” & “Đáng tiền” (Value-for-money)

Tiết kiệm năm 2026 không phải là mua đồ rẻ nhất, mà là mua đồ dùng được lâu nhất.

  • Triết lý “Less is More”: Thay vì mua 10 chiếc áo rẻ tiền nhanh hỏng, người tiêu dùng chọn mua 2 chiếc áo chất lượng cao, bền bỉ và đa năng (có thể mặc đi làm lẫn đi chơi).

  • Tư duy dữ liệu: Người dùng sử dụng AI để so sánh giá, đọc review thực tế từ KOC 2.0 (những người review trung thực, không quảng cáo lố) trước khi xuống tiền. Họ cực kỳ dị ứng với các hình thức “seeding” ảo.

4. Lối sống Xanh & Bền vững (Sustainability)

Đây không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành tiêu chuẩn chọn lựa hàng hóa:

  • Ưu tiên sản phẩm đạo đức: Người Việt quan tâm đến việc bao bì có tái chế được không, doanh nghiệp có đối xử tốt với nhân viên không.

  • Ăn chay và sống thuần chay: Các dịp “Tết Chay”, “Tháng Chay” hay các nhà hàng thuần chay mọc lên như nấm, đáp ứng nhu cầu thanh lọc cơ thể và bảo vệ môi trường.

5. Ngôi nhà là “Trung tâm vũ trụ”

Sau các biến động, ngôi nhà không chỉ là nơi ngủ mà là nơi tích hợp mọi hoạt động.

  • Home-tainment: Đầu tư mạnh vào dàn âm thanh, máy chiếu tại gia, máy pha cà phê chuyên nghiệp để tận hưởng cảm giác “chill” ngay tại nhà thay vì ra quán.

  • Smart-home tiện lợi: Các thiết bị gia dụng tự động (robot hút bụi, nồi chiên hơi nước, máy rửa bát) được coi là khoản đầu tư để “mua lại thời gian” cho bản thân.

6. Mua sắm không điểm dừng (Seamless Journey)

  • Social Commerce & Live-shopping: Người Việt thích vừa giải trí vừa mua sắm. Các phiên livestream không chỉ đơn thuần là bán hàng mà là một show diễn kỹ năng và kiến thức.

  • Kỳ vọng về tốc độ: “Giao hàng trong 2h” đã trở thành tiêu chuẩn. Nếu một thương hiệu giao hàng quá lâu (trên 3 ngày), khả năng khách hàng hủy đơn hoặc không quay lại là rất cao.

Theo Ver2Solution người Việt năm 2026 đang tiêu dùng theo kiểu “Tận hưởng có trách nhiệm”. Họ không tiêu xài hoang phí, nhưng cũng không tằn tiện đến mức khắc khổ. Họ chi tiền để nâng cấp chất lượng sống và khẳng định bản sắc cá nhân, quan tâm cảm xúc nhiều hơn.

Để chạm đúng vào tâm lý “Chi tiền cho trải nghiệm và giá trị sống” của người Việt năm 2026, kịch bản livestream của bạn cần thoát khỏi lối mòn “hét giá – chốt đơn” truyền thống. Hãy biến phiên live thành một buổi chia sẻ phong cách sống (Lifestyle Sharing).

💡 3 Mẹo “Thôi miên” khách hàng năm 2026:

  1. Dùng ngôn ngữ “Vị nhân sinh”: Thay vì nói “Áo này chất vải lanh”, hãy nói “Mặc áo này đi biển, gió thổi qua là thấy mát lịm, lên hình màu này cực kỳ tôn da”.

  2. Minh chứng thực tế (Social Proof): Đưa điện thoại lên màn hình cho khách xem những feedback (đã xin phép) hoặc ảnh khách check-in đẹp với sản phẩm của bạn.

  3. Thái độ “Chuyên gia”: Đừng chỉ là người bán, hãy là người tư vấn. Nếu khách hỏi đi leo núi nên mang gì, hãy thành thật khuyên họ chọn sản phẩm phù hợp thay vì cố bán món đắt nhất.

Tổng hợp phân tích nhiều nguồn.
Ver2Solution Research

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .