Connect with us

Khởi Nghiệp

Thu tỷ USD khi dùng ruồi biến rác thành thức ăn chăn nuôi

Published

on

Ấu trùng ruồi lính đen ăn và chuyển hóa 70% lượng rác hữu cơ thành protein, lipid, trở thành nguồn thức ăn cho chăn nuôi, phân bón, thu tỷ USD khi dùng ruồi biến rác thành thức ăn chăn nuôi dự báo tạo giá trị đến 5,6 tỷ USD đến 2035.

Đầu năm 2025, thành phố Sydney bắt đầu hợp tác với doanh nghiệp dùng ấu trùng dùng ruồi lính đen (Black Soldier Fly – BSF) để xử lý rác thải sinh hoạt. Trong hai tháng, 90 tấn thực phẩm thừa của thành phố đã được đàn ấu trùng ăn hết.

Trên tờ AuNews, Clover Moore – thị trưởng thành phố cho biết không gian bãi chôn lấp của Sydney đã gần cạn kiệt, khiến những dự án này trở nên quan trọng hơn. Bên cạnh đó, quá trình phân hủy khi chôn lấp tạo ra khí mê-tan – một loại khí nhà kính mạnh gấp 25 lần so với carbon dioxide trong khí quyển.

Với việc dùng ruồi lính đen, thành phố kỳ vọng trong 12 tháng có thể xử lý 500 tấn thức ăn thừa từ khoảng 22.500 hộ gia đình thay vì chôn lấp. Giải pháp này giúp giảm rác thải, khí nhà kính. Chất thải của ấu trùng được biến thành phân bón, trong khi những sinh vật này trở thành nguồn protein cho cá, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi, tạo ra giá trị kinh tế.

Thực tế, giải pháp nuôi ruồi lính đen đã được giới khoa học và nhiều quốc gia coi là một trong những giải pháp bền vững để xử lý rác thải hữu cơ và tạo nguồn protein thay thế trong chăn nuôi, trồng trọt. Ấu trùng có khả năng ăn và chuyển hóa khoảng 70% khối lượng chất hữu cơ thành sinh khối protein và lipid. Theo tính toán từ Food Times, 1 tấn rác hữu cơ có thể tạo ra 200-250 kg ấu trùng, dùng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Thị trường này cũng đang có tốc độ tăng trưởng nhanh. Nghiên cứu trên Credence Research cho biết thị trường BSF toàn cầu ở mức 541,5 triệu USD năm 2022, dự kiến đạt 3,88 tỷ USD vào năm 2028, với mức tăng trưởng CAGR lên đến 32,5%. Còn nghiên cứu mới nhất trên Meticulous Research tháng 5/2025 dự báo đến 2035, thị trường BSF có thể đạt đến 5,6 tỷ USD.

Châu Âu đã cho phép sử dụng bột protein từ ấu trùng BSF làm thức ăn thủy sản và gia cầm từ năm 2017, sau đó mở rộng cho lợn. Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc hiện có nhiều trang trại ứng dụng công nghệ nuôi côn trùng để xử lý rác và sản xuất protein. Thậm chí, tại UAE, nước này đã có nhà máy xử lý rác thải hữu cơ dùng ruồi lính đen. Sau khi hấp thụ rác thực phẩm trong 10 ngày, ruồi được sấy khô và chiết xuất thành dầu phục vụ sản xuất nhiên liệu hàng không.

Tiềm năng tại Việt Nam

Việt Nam, với lượng rác thải khổng lồ và nhu cầu phát triển chăn nuôi, bước đầu đã hình thành những cơ sở phát triển mô hình này. Theo thống kê, mỗi ngày Việt Nam phát sinh khoảng 60.000 tấn rác thải sinh hoạt, trong đó 60-70% là chất thải hữu cơ. Việc xử lý rác chủ yếu thông qua chôn lấp, đốt hoặc ủ compost.

Mô hình nuôi BSF đã được một số nông hộ, doanh nghiệp khởi xướng cho thấy khả năng ứng dụng rộng rãi. Đơn cử, Entobel – doanh nghiệp từ Singapore đã mở nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi từ ruồi lính đen công suất 10.000 tấn protein mỗi năm tại Vũng Tàu cuối năm 2023. Theo đơn vị, đây là nhà máy sản xuất thức ăn BSF lớn nhất châu Á.

Alex de Caters – đồng sáng lập của doanh nghiệp này trả lời trên Agri Funder News rằng ruồi lính đen là loài côn trùng nhiệt đói, hiệu quả về mặt chuyển đổi sinh học (chuyển rác hữu cơ thành protein). Trong khi ngành thủy sản – thị trường tiêu thụ chính, lại phát triển ở Đông Nam Á. Do đó, Việt Nam nổi lên là thị trường hấp dẫn cho mô hình kinh doanh này.

Loài này không kén ăn, vòng đời ngắn, không làm hại nếu phát sinh ra tự nhiên. Nếu nuôi quy mô nhỏ có thể cho ăn bất kỳ nguồn rác hữu cơ nào. Trong khi đó, với mô hình công nghiệp, các đơn vị phải đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra nên nguồn thức ăn cho ấu trùng phải đồng nhất. Trong trường hợp của Entobel, doanh nghiệp này đặt cơ sở gần nhà máy bia của Heineken, tận dụng ngũ cốc đã qua sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng.

Lợi ích của BSF không chỉ nằm ở protein. Quá trình nuôi ấu trùng còn cho ra phân bón hữu cơ giàu dinh dưỡng, có thể thay thế một phần phân hóa học. Theo Mordor Intelligence, thị trường phân bón hữu cơ toàn cầu ước đạt 13,39 tỷ USD năm 2025, tăng lên 17,83 tỷ USD vào 2030, với CAGR là 5,9%. Điều này mở ra cơ hội kép cho nông dân và doanh nghiệp: vừa có nguồn thu từ protein côn trùng, vừa tạo sản phẩm phụ phục vụ trồng trọt.

Nhiều nghiên cứu gần đây nhấn mạnh tiềm năng giảm phát thải của BSF. Nghiên cứu đăng tải trên Research Gate áp dụng phương pháp đánh giá vòng đời để ước lượng khí thải nhà kính ghi nhận sản xuất 1 kg bột protein từ BSF tạo ra 0,5 kg CO2e. Ngoài ra, 1 kg bột cá tạo ra đến 3,7 kg CO2e. CO2e là đơn vị đo lường được sử dụng để chuẩn hóa tác động của các loại khí nhà kính khác nhau, được tính bằng cách quy đổi chúng thành lượng khí CO2 tương đương có cùng khả năng gây hiệu ứng nhà kính trong một khoảng thời gian nhất định – thường là 100 năm.

Ngành chăn nuôi trong nước mỗi năm tiêu thụ khoảng 23 triệu tấn thức ăn, phần lớn dựa vào nguồn nhập khẩu bột cá và khô đậu nành. Nếu áp dụng BFS rộng rãi tại Việt Nam, mỗi năm có thể giảm hàng triệu tấn khí thải từ hoạt động chăn nuôi và xử lý rác.

Tuy nhiên, để ngành này phát triển bền vững cần khung pháp lý rõ ràng. Hiện Việt Nam chưa có quy chuẩn cụ thể cho sản phẩm protein từ côn trùng. Bên cạnh đó, nhận thức của người chăn nuôi và người tiêu dùng về protein côn trùng còn hạn chế.

Một thách thức khác là công nghệ nuôi và chế biến. Ấu trùng BSF sinh trưởng nhanh nhưng đòi hỏi môi trường nhiệt độ, độ ẩm ổn định. Việc thu hoạch, sấy và nghiền thành bột protein cũng cần dây chuyền tự động để bảo đảm chất lượng và giảm chi phí. Các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực này thường thiếu vốn đầu tư công nghệ, khiến sản lượng chưa ổn định.

Ver2Solution theo VNexpress 

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Khởi Nghiệp

Sau hàng loạt thất vọng về AI, một chiếc hộp in sticker 9,5 cm lại ra đời và khiến giới công nghệ bất ngờ

Published

on

Giữa làn sóng thiết bị AI gây tranh cãi vì hứa hẹn quá mức, một sản phẩm nhỏ gọn dành cho trẻ em đang cho thấy hướng đi khác biệt: tập trung, thực tế và khơi gợi sáng tạo thay vì phô trương công nghệ.

Trong vài năm trở lại đây, thị trường công nghệ chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt thiết bị lấy trí tuệ nhân tạo làm trung tâm. Tuy nhiên, không ít sản phẩm trong số đó gây thất vọng khi không đáp ứng được kỳ vọng ban đầu. Những cái tên như Rabbit R1 hay Humane AI Pin từng được quảng bá rầm rộ nhưng sau đó vấp phải nhiều hoài nghi vì hiệu năng thực tế không tương xứng với lời giới thiệu.

Trong bối cảnh đó, Stickerbox của startup Hapiko có trụ sở tại Brooklyn lại chọn một hướng đi hoàn toàn khác: không cố gắng trở thành thiết bị “vạn năng”, mà chỉ tập trung vào một nhiệm vụ duy nhất: biến ý tưởng của trẻ nhỏ thành những miếng sticker để tô màu.

Stickerbox là một khối lập phương nhỏ gọn, kích thước chỉ 3,75 inch, tương đương 9,5 cm, đủ để đặt gọn trên bàn học của trẻ. Cách vận hành của thiết bị cũng đơn giản đúng như đối tượng mà nó hướng tới. Trẻ nhấn nút lớn trên đỉnh máy, nói ra ý tưởng của mình (chẳng hạn như “một con hổ đang ăn kem” hay “một con thằn lằn trượt ván”) và hệ thống AI bên trong sẽ xử lý yêu cầu đó.

Thiết bị sử dụng kết hợp nhiều mô hình AI để phân tích nội dung mô tả, sau đó tạo ra hình minh họa dạng nét viền đơn sắc. Tác phẩm này được in ngay lập tức bằng máy in nhiệt trên giấy không chứa BPA và BPS, đảm bảo yếu tố an toàn cho trẻ nhỏ. Chỉ trong vài giây, một miếng sticker sẵn sàng được bóc ra để tô màu bằng bút chì hoặc bút sáp thông thường.

Ý tưởng về Stickerbox xuất phát từ trải nghiệm cá nhân của Bob Whitney, đồng sáng lập Hapiko. Khi con trai ông thường xuyên nảy ra những ý tưởng giàu trí tưởng tượng và muốn có tranh để tô màu, Whitney phải lục lại máy in để bàn tại nhà để tự thiết kế và in ấn. Stickerbox ra đời như một cách tinh giản toàn bộ quy trình đó, đồng thời trao quyền chủ động sáng tạo cho trẻ em.

Không chỉ tập trung vào khía cạnh sáng tạo, Hapiko còn nhấn mạnh yếu tố an toàn. Theo giới thiệu từ công ty, thiết bị chỉ ghi nhận giọng nói khi người dùng nhấn nút, không nghe ngầm trong nền và không lưu trữ dữ liệu giọng nói. Hệ thống cũng được thiết kế để lọc bỏ từ ngữ tục tĩu trong yêu cầu, đồng thời chặn nội dung không phù hợp trước khi hiển thị trên màn hình hoặc in ra giấy.

Trong bài đánh giá đăng tải trên TechCrunch, nhà báo Sarah Perez nhận định rằng Stickerbox không chỉ xử lý các yêu cầu đơn giản mà còn có thể hiểu những ý tưởng được diễn đạt theo chuỗi suy nghĩ dài. Điều này cho phép trẻ thoải mái mô tả chi tiết, thậm chí ngộ nghĩnh và phức tạp, mà không bị giới hạn bởi cấu trúc câu ngắn gọn.

Ở mức giá 99 USD, Stickerbox đi kèm một bộ bút chì màu và ba cuộn giấy, tương đương khoảng 180 sticker. Người dùng có thể mua thêm giấy in với giá 5,99 USD cho gói ba cuộn. So với nhiều thiết bị AI khác trên thị trường, mức giá này được đánh giá là khá hợp lý, đặc biệt khi xét tới đối tượng khách hàng là gia đình có trẻ nhỏ.

Dù vậy, sản phẩm vẫn còn một số hạn chế. Hiện tại, người dùng chưa thể in lại một thiết kế cũ hoặc lưu một “nhân vật” để tái sử dụng trong các sáng tạo mới. Ngoài ra, thiết bị cũng chưa hỗ trợ in trên chất liệu trong suốt, điều có thể mở ra khả năng dán sticker lên nhiều bề mặt và tích hợp vào các bối cảnh có sẵn. Đây là những tính năng được kỳ vọng có thể bổ sung thông qua các bản cập nhật phần mềm trong tương lai.

Giữa một thị trường công nghệ đang chạy đua tích hợp AI vào mọi thiết bị, Stickerbox cho thấy một hướng tiếp cận khác: tập trung vào nhu cầu cụ thể, giải quyết vấn đề thực tế và đặt trải nghiệm người dùng, đặc biệt là trẻ em, làm trung tâm. Không ồn ào, không phô trương, thiết bị nhỏ bé này đang chứng minh rằng đôi khi, điều người dùng cần không phải là một hệ sinh thái AI phức tạp, mà chỉ là một công cụ đơn giản đủ thông minh để biến trí tưởng tượng thành hiện thực.

Ver2Solution theo Đời Sống Pháp Luật

Continue Reading

Trong Nước

ACCESSTRADE: 10 năm dẫn dắt cuộc cách mạng E-commerce bền vững không cần quảng cáo cho doanh nghiệp Việt

Published

on

Trong bối cảnh chi phí quảng cáo gia tăng, các sàn thương mại điện tử (TMĐT) thắt chặt chi phí, cộng đồng doanh nghiệp Việt đang đứng trước một bài toán làm thế nào để duy trì đà tăng trưởng mà không bị cuốn vào vòng xoáy tìm kiếm traffic?

Bài toán sinh tồn của doanh nghiệp khi chi phí quảng cáo leo thang

Ông đánh giá như thế nào về tiềm năng tăng trưởng của ngành E-commerce Việt Nam trong bối cảnh hiện nay?

TMĐT Việt Nam đang tăng trưởng đột phá, năm 2025 quy mô thị trường dự kiến đạt 31 tỷ USD, chiếm khoảng 10% tổng mức bán lẻ. Với tốc độ tăng trưởng dự báo đến năm 2030 là hai chữ số thì ngành này đang chạy nhanh gấp 2-3 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Đặc biệt, thị trường tiếp thị liên kết được ước tính đạt gần 1 tỷ USD, tăng trưởng rất nhanh so với giai đoạn trước.

Với vị trí địa kinh tế thuận lợi, Việt Nam đang trở thành trung tâm dịch vụ toàn cầu. Chúng tôi dự đoán trong giai đoạn 2026 – 2030 sẽ có sự xuất hiện của các sàn TMĐT chuyên ngành. Nếu các sàn tổng hợp giải quyết nhu cầu mua sắm đa dạng thì các “ông lớn” như Long Châu, Thế Giới Di Động hay các sàn hóa chất, vật tư công nghiệp sẽ bùng nổ nhờ khả năng tư vấn chuyên sâu, dịch vụ hậu mãi vượt trội.

ACCESSTRADE: 10 năm dẫn dắt cuộc cách mạng E-commerce bền vững không cần quảng cáo cho doanh nghiệp Việt - Ảnh 2.

Ông Đỗ Hữu Hưng nhấn mạnh Growth Loop là động cơ tăng trưởng mới của doanh nghiệp trên sàn TMĐT

Theo ông, các doanh nghiệp tham gia trên các sàn TMĐT cần phải làm gì khi chi phí quảng cáo ngày càng tăng?

Thực trạng hiện nay là chi phí quảng cáo có thể tăng đến 40%, phí sàn chiếm tới hơn 20% doanh thu khiến biên lợi nhuận bị bào mòn. Doanh nghiệp đang rơi vào cái bẫy cứ ngừng chi tiền cho quảng cáo là traffic và doanh thu biến mất. Việc thiếu hụt traffic tự nhiên khiến tỷ lệ sống sót của doanh nghiệp trên sàn chỉ khoảng 20-30%. Vì vậy, nếu không trò chuyện thật với khách hàng, doanh nghiệp sẽ không có chuyển đổi thật.

Thế thì làm sao để không phụ thuộc vào quảng cáo? Đó chính là việc doanh nghiệp cần thay đổi tư duy kinh doanh theo Growth Loop – Tạo nên một vòng lặp tăng trưởng để làm sao khách hàng đến với mình rồi quay trở lại mua tiếp và lan tỏa thông tin đến cộng đồng, giúp doanh nghiệp không phải mất thêm tiền quảng cáo nữa. Mô hình này đã được TikTok triển khai rất hiệu quả, dù mới tham gia TMĐT Việt Nam khoảng 3 – 4 năm gần đây nhưng đến năm 2025 đã gia tăng thị phần lên tới 40%.

Phát triển bền vững bằng cách chuyển đổi tư duy sang Growth Loop

Vậy những yếu tố nào khiến Growth Loop giúp doanh nghiệp chủ động tạo ra đà tăng trưởng thay cho việc phụ thuộc vào traffic s

Khác với cách tư duy tăng trưởng truyền thống nơi khách hàng là điểm kết thúc thì Growth Loop coi khách hàng là điểm bắt đầu của một chu kỳ mới. Growth Loop kết nối doanh nghiệp, nhà sáng tạo nội dung và công nghệ thành một vòng giá trị khép kín. Mỗi điểm chạm đều được đo lường, tái đầu tư và cộng hưởng, giúp tăng trưởng bền vững và khó sao chép.

Hiện nay đa phần doanh nghiệp Việt Nam coi khách hàng chỉ là người mua hàng và luôn áp lực cần tìm khách hàng mới. Tuy nhiên, trên thế giới các doanh nghiệp coi khách hàng là người mang lại nhiều giá trị. Nếu chúng ta bán cho khách A một lần một đơn hàng 100.000 đồng, như vậy chỉ thu được 100.000 đồng. Nhưng nếu khách này quay lại mua 10 lần và giới thiệu thêm khách hàng khác thì chúng ta có thể bán ra lượng hàng gấp mấy chục lần. Vì vậy thay bằng việc đi tìm khách hàng mới, đốt nhiều tiền cho quảng cáo thì nên chăm sóc thật tốt khách hàng cũ để họ quay lại mua nhiều hơn. Thông qua mạng xã hội có khi chính khách hàng đó sẽ truyền thông cho doanh nghiệp của mình.

ACCESSTRADE: 10 năm dẫn dắt cuộc cách mạng E-commerce bền vững không cần quảng cáo cho doanh nghiệp Việt - Ảnh 3.

Mô hình Growth Loop đang nhận được sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp kinh doanh trên các nền tảng E-commerce

Theo ông, các vòng lặp nào của Growth Loop sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp?

Growth Loop không phải là khái niệm mới mà đã là “vũ khí” của những đế chế toàn cầu như Apple hay Tesla. Apple xây dựng hệ sinh thái để mỗi khách hàng trở thành đại sứ gắn bó dài hạn, trong khi Tesla gần như không chi cho quảng cáo truyền thống mà tận dụng niềm tin từ cộng đồng để lan tỏa thương hiệu. Tại Việt Nam, sự thành công của VinFast với kỷ lục đặt cọc VF3 là một minh chứng sống động cho “Vòng lặp đại sứ” (Ambassador Loop) – nơi tiếng nói từ người dùng có sức thuyết phục và tạo ra hiệu ứng chuyển đổi mạnh mẽ hơn bất kỳ chiến dịch quảng cáo một chiều nào.

Thứ hai là vòng lặp nội dung dựa trên hiệu suất (Performance-based Content) là vòng lặp tăng trưởng trực tiếp giữa Growth Sale và Growth Loyal Customer. Chúng tôi biến các tiếp viên hàng không thành những KOC bán hàng. Với uy tín và sức ảnh hưởng sẵn có, họ mang về doanh thu hàng trăm tỷ mỗi tháng mà doanh nghiệp không tốn chi phí “nuôi quân”. Thứ ba là vòng lặp Livestream. TikPlus và ACCESSTRADE coi Livestream là vòng tăng trưởng trực tiếp, nơi nội dung tạo ra đơn hàng ngay lập tức. Việc đo lường hiệu quả tại chỗ với dữ liệu thật từ các nhãn hàng giúp doanh nghiệp tối ưu hóa vòng lặp này liên tục.

Trong giai đoạn tới, Growth Loop sẽ được hỗ trợ mạnh mẽ bởi AI. Chúng tôi đã ra mắt bộ giải pháp như AI Creator Tool giúp KOC tạo clip từ dữ liệu hành vi, AI Livestream Assistant gợi ý nội dung thời gian thực và Performance Data Hub hợp nhất dữ liệu đa kênh. Những công cụ này đóng vai trò như “đồng đội AI”, đảm bảo các vòng lặp được kết nối bằng dữ liệu và liên tục tự tối ưu.

ACCESSTRADE: 10 năm dẫn dắt cuộc cách mạng E-commerce bền vững không cần quảng cáo cho doanh nghiệp Việt - Ảnh 4.

CEO ACCESSTRADE tư vấn các doanh nghiệp cần xây dựng các kênh truyền thông, tạo thế “kiềng ba chân” để phát triển bền vững

Tại sao doanh nghiệp cần triển khai Growth Loop ngay trong giai đoạn từ 2026 – 2030?

Trong 5 năm tới sẽ là giai đoạn của sự bền vững và giá trị thật trên sàn TMĐT. Việc tăng trưởng doanh thu bản chất là nâng cao năng lực lõi. Growth Loop không phải là giải pháp phù hợp cho mọi doanh nghiệp. Mô hình này đòi hỏi doanh nghiệp cần đáp ứng được những điều kiện khắt khe: Sản phẩm phải đủ khác biệt, trải nghiệm khách hàng ổn định và doanh nghiệp phải có năng lực đo lường dữ liệu chuẩn xác. Doanh nghiệp cần xây dựng thế “kiềng ba chân”, từ kênh sở hữu (Owned Media), kênh trả phí (Paid Channel) đến kênh lan tỏa từ cộng đồng (Earned Media), thay vì chỉ biết phụ thuộc vào việc thuê traffic từ các sàn.

Điều này thấy rõ từ câu chuyện kinh doanh của Coolmate. Họ đã xây dựng Owned Media và mạng lưới Affiliate ngay từ những ngày đầu kinh doanh nên đã sở hữu hàng triệu lượt traffic mỗi tháng, phát triển bền vững mà giảm phụ thuộc vào quảng cáo. Với xu hướng chung khi Việt Nam đang trở thành trung tâm dịch vụ toàn cầu, nếu doanh nghiệp không sớm trang bị “hành trang” Growth Loop thì sẽ thua ngay trên sân nhà.

Bên cạnh đó, chúng ta cần phải tính bài toán làm thế nào để thương hiệu Việt vươn tầm quốc tế mà không bị lệ thuộc vào các kênh phân phối ngoại? Câu trả lời nằm ở việc kết hợp Growth Loop với mạng lưới người Việt toàn cầu. Bằng cách tận dụng Affiliate Marketing để kết nối với cộng đồng người Việt trên khắp thế giới, doanh nghiệp có thể tạo ra một kênh Earned Media xuyên biên giới. Khi đó, mỗi người sẽ trở thành một đại sứ thương hiệu, giúp hàng Việt tiếp cận trực tiếp người dùng cuối dựa trên niềm tin và sự thấu hiểu văn hóa bản địa.

Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Ver2Solution theo Phụ Nữ Số 

Continue Reading

Khởi Nghiệp

Đi chậm để đi xa: Chuyện tỷ phú Trung Quốc xây dựng đế chế đồ chơi từ con số không

Published

on

Từ những ý tưởng kinh doanh ban đầu đến đế chế đồ chơi quốc tế, hành trình của tỷ phú Trung Quốc Vương Ninh và Pop Mart truyền cảm hứng cho giới trẻ khởi nghiệp.

Nhờ sản xuất và kinh doanh đồ chơi sưu tập, Vương Ninh đã trở thành tỷ phú và đưa Pop Mart trở thành đế chế đồ chơi. Ảnh: Forbes.
Nhờ sản xuất và kinh doanh đồ chơi sưu tập, Vương Ninh đã trở thành tỷ phú và đưa Pop Mart trở thành đế chế đồ chơi. Ảnh: Forbes.

Pop Mart, một công ty đồ chơi Trung Quốc có trụ sở tại Bắc Kinh nổi tiếng với việc bán đồ chơi và búp bê nhỏ sưu tầm theo hình thức “hộp mù”, trong mấy năm qua đã “càn quét” thị trường toàn cầu.

Người sáng lập, CEO Vương Ninh mới đây tiết lộ, sản phẩm nổi bật Labubu của hãng đã đạt doanh số vượt 100 triệu đơn vị trong cả năm 2025, lập kỷ lục mới. Tổng doanh số tất cả các sản phẩm và IP của hãng đạt trên 400 triệu, với hoạt động kinh doanh phủ sóng hơn 100 quốc gia và khu vực, hơn 700 cửa hàng trên toàn cầu và sở hữu 6 trung tâm chuỗi cung ứng lớn.

Vương Ninh đã biến Pop Mart từ một cửa hàng nhỏ ở Bắc Kinh thành một đế chế đồ chơi sưu tập toàn cầu, với hàng trăm triệu người hâm mộ khắp thế giới.

Vương Ninh đã đoạt giải “Nhân vật kinh tế mới nổi Trung Quốc năm 2020”, Nhân vật khởi nghiệp tiên phong Trung Quốc U40 của Hurun, được Forbes vinh danh “CEO xuất sắc nhất Trung Quốc năm 2024”, đồng thời trở thành CEO trẻ nhất trong lịch sử.

Năm 2025, anh được đánh giá là “Doanh nhân kinh tế mới 2024” và xuất hiện trên bìa tạp chí “Nhân vật kinh tế Trung Quốc 2024” và bìa tạp chí “China News Weekly”. Tháng 6/2025, với tài sản trị giá 20,5 tỷ USD anh trở thành tỷ phú giàu nhất tỉnh Hà Nam, xếp thứ 10 trong danh sách tỷ phú Trung Quốc của Forbes.

Sinh ra để khởi nghiệp

Năm 1987, Vương Ninh sinh ra tại Tân Hương, tỉnh Hà Nam. Bố mẹ và người thân đều làm đủ loại hình kinh doanh nhỏ lẻ. Cha mẹ Vương Ninh lần lượt buôn bán băng video, đồng hồ, dụng cụ câu cá… Tuổi thơ và thời gian rảnh sau giờ học của cậu hầu như đều gắn liền với cửa hàng của gia đình.

Mỗi ngày, đủ loại khách hàng ra vào mua sắm khiến Vương Ninh dần hình thành niềm hứng thú kinh doanh mạnh mẽ. Điều này giúp anh sớm nhạy bén với thông tin thương mại và nuôi ý chí: lớn lên nhất định sẽ làm ăn, phải khởi nghiệp.

thuo-ban-dau.jpg
Vương Ninh và các sản phẩm của mình. Ảnh: Baidu.

Sau khi tốt nghiệp cấp ba, Vương Ninh bắt đầu khởi nghiệp đầu tiên trong đời. Đá bóng giỏi nên anh đã tranh thủ kỳ nghỉ trước khi vào đại học để mở một lớp bóng đá mùa hè ngay tại quê nhà. Dù không có sân tập, không có kinh nghiệm giảng dạy, cũng chẳng có văn phòng, nhưng Vương Ninh vẫn xoay xở in rất nhiều tờ rơi và phát trước cổng các trường tiểu học, nhanh chóng tuyển được vài chục học viên. Vương Ninh dẫn các em ra quảng trường gần nhà tập luyện, một mình kiêm luôn nhiều vai trò.

Số tiền kiếm được đầu tiên tuy không nhiều, nhưng đó là một trải nghiệm và sự khởi đầu tốt đẹp. Năm 2005, Vương Ninh theo học ngành quảng cáo tại Học viện Quốc tế Sias, Đại học Trịnh Châu. Nhà trường thường xuyên tổ chức các hoạt động, điều này khơi gợi trong anh ý tưởng ghi lại những khoảnh khắc ấy để chia sẻ với gia đình và bạn bè.

Anh quay lại sinh hoạt đời sống trong trường thành các video MV, sau đó ghi ra đĩa CD; những chiếc đĩa này trở nên phổ biến trong lớp và toàn trường, nhiều sinh viên tìm đến nhờ anh sao chép. “Chủ yếu chỉ là hình ảnh và cuộc sống của chính mình mà lại có nhiều người muốn có như vậy. Nếu làm thành phim ghi lại đời sống đại học của toàn trường, rồi phát hành dưới dạng đĩa CD, chắc sẽ có rất nhiều người mua?”, ý nghĩ này khiến Vương Ninh phấn khích. Trực giác mách bảo anh đây sẽ là ý tưởng kinh doanh rất tốt.

labubu-can-quet.jpg
Búp bê Labubu càn quét khắp thế giới. Ảnh: Cee.

Khi khóa sinh viên mới nhập học, Vương Ninh thành lập một câu lạc bộ mang tên “Days Studio”, ghi lại từ cảnh tân sinh viên nhập học, đêm hội chào đón, các hoạt động câu lạc bộ cho đến giao lưu liên trường… Lô đĩa đầu tiên gồm 1.000 chiếc đã bán hết sạch chỉ trong một ngày.

Vương Ninh và đội ngũ “Days Studio” nhanh chóng nổi tiếng trong trường. Nhiều sinh viên năng động tìm đến xin gia nhập, trong đó có những người sau này theo anh khởi nghiệp hơn 10 năm, trở thành các “công thần” đầu tiên.

Dù kinh doanh đĩa CD không phải là một ngành lớn, nhưng từ khâu sáng tạo, lên ý tưởng, chọn bối cảnh, quay phim, đến hậu kỳ, quảng bá, bán hàng và chăm sóc sau bán, cả đội đã trải nghiệm một quy trình kinh doanh khá hoàn chỉnh, đặt nền móng cho những dự án sau này.

Về sau, khi các trang web video ngày càng phát triển, phim tài liệu bị sinh viên đăng tải lên mạng xã hội, số người mua đĩa giảm mạnh. Vương Ninh chuyển sang kinh doanh bán buôn – bán lẻ, cùng đội ngũ đi Hàng Châu, Nghĩa Ô… khảo sát thị trường, nhập những món hàng nhỏ thú vị rồi bán lại.

tim-cook-gap-vuong-ninh.jpg
CEO Apple Tim Cook giao lưu với Vương Ninh. Ảnh: Sina.

Đầu năm 2008, Vương Ninh và các cộng sự phát hiện ra mô hình “cửa hàng ô vuông” (grid shop) – một hình thức bán lẻ mới nổi. Những “ô nhỏ” này có thể tập hợp nhiều loại hàng hóa khác nhau, chủ yếu là sản phẩm sáng tạo, rất thu hút dòng người tiêu dùng.

Khi “cửa hàng ô vuông” trở nên nổi tiếng, người làm theo ngày càng nhiều. Chỉ trong hai tháng, quanh trường đã xuất hiện hơn chục shop tương tự. Dù cửa hàng của Vương Ninh rất thành công, nhưng mô hình này không bền vững do cạnh tranh khốc liệt, các cửa hàng tự triệt tiêu lẫn nhau và cuối cùng không ai kiếm được tiền.

Thành lập Pop Mart

Mặc dù cửa hàng ô vuông sản phẩm phong phú, nhưng mô hình lại gây ra hàng loạt vấn đề: khó kiểm soát chất lượng, phong cách sản phẩm không đồng nhất, biên lợi nhuận thấp.

moc-khoa.jpg
Móc túi Labubu. Ảnh: Baidu.

Vì vậy, Vương Ninh muốn xây dựng một mô hình bán lẻ dựa trên nền tảng này nhưng mua hàng tập trung, kiểm soát chất lượng tốt, đồng thời vẫn giữ được sự đa dạng sản phẩm. Khoảng năm 2010, thị trường bán lẻ Trung Quốc còn rất thiếu danh mục lớn mang tên đồ dùng – hàng hóa xu hướng. Anh cho rằng đây là cơ hội ngàn năm có một.

Vương Ninh cùng team đi nhiều thành phố khảo sát các khu bán lẻ sành điệu nhất, cuối cùng phát hiện tại Hong Kong có một công ty tên là Log On trưng bày và bán các sản phẩm xu hướng, mở rất nhiều cửa hàng và kinh doanh cực kỳ thành công.

Ngay khi thấy mô hình này, Vương Ninh nghĩ: “Đây chính là thứ mình đang tìm”. Thế là anh quyết định quay về Bắc Kinh, dựa theo mô hình đó để sáng lập Pop Mart, dốc toàn bộ số vốn tích lũy từ khởi nghiệp vào dự án.

Tháng 11/2010, cửa hàng Pop Mart đầu tiên chính thức khai trương tại trung tâm thương mại Âu Mỹ Hối, Trung Quan Thôn (Bắc Kinh). Áp lực lập tức kéo đến. Nếu như thời cửa hàng ô vuông, đối thủ chủ yếu là tiểu thương nhỏ, thì khi Pop Mart mở trong trung tâm thương mại cao cấp, đối thủ đã là các thương hiệu bán lẻ có thực lực.

len-bia.png
Vương Ninh trở thành gương mặt trang bìa của Forbes.

Giai đoạn đầu khởi nghiệp, Pop Mart do nhóm người trẻ hơn 20 tuổi vận hành, không tuyển được nhân sự có kinh nghiệm quản lý bán lẻ. Lượng khách ít, nhân viên rảnh rỗi, cuối cùng xin nghỉ việc hàng loạt.

Cuối năm 2011, Pop Mart bắt đầu cân nhắc chuyển hướng. Sau một năm tìm kiếm, Vương Ninh lựa chọn được một số nhà cung ứng và sản phẩm phù hợp với phong cách Pop Mart, nhưng doanh thu và hiệu quả vận hành cửa hàng vẫn rất thấp.

Để tìm lối đi khác, Vương Ninh mở nền tảng Taohuo, đóng gói tài nguyên bán lẻ thành dịch vụ và bán lại cho những người muốn mở cửa hàng giống mình. Làm website không khó, nhưng quảng bá và vận hành lại cần nguồn vốn khổng lồ. Vì vậy, anh bắt đầu tiếp xúc với các quỹ đầu tư mạo hiểm.

Năm 2012, Vương Ninh và team gặp gỡ hơn chục công ty đầu tư nhưng không ai chịu rót vốn. Bất ngờ, một ngày tháng 8, nhà đầu tư thiên thần nổi tiếng Trung Quốc Mạch Cương chủ động tìm đến, bày tỏ rất quan tâm đến Pop Mart. Mạch Cương quyết định đầu tư 2 triệu NDT, tuy không quá lớn, nhưng thực sự là “phao cứu sinh”.

tien-quan-paris.png
Pop Mart tiến quân vào thị trường Pháp. Ảnh: Sina.

Giai đoạn 2012–2015, Pop Mart nhanh chóng trỗi dậy trong thị trường giới trẻ, thu hút hàng loạt tổ chức đầu tư, trong đó có cả các nhà đầu tư chiến lược ngành bán lẻ, giúp hoàn thiện mạnh mẽ hệ thống vận hành. Từ một nhóm khởi nghiệp vài người Pop Mart đã phát triển thành doanh nghiệp quy mô, chuẩn hóa, với hiệu quả quản lý cửa hàng ngày càng cao.

Chuyển mình thành công

Tuy nhiên, đến năm 2015, Vương Ninh cảm nhận rõ ngành bán lẻ đang thay đổi: doanh số cửa hàng offline sụt giảm, biên lợi nhuận đi xuống, môi trường kinh doanh ngày càng khó khăn.

Giữa lúc bối rối, một búp bê đồ chơi mang tên Sonny Angel đã mở ra cánh cửa mới. Đây là mẫu figure (nhân vật) cao khoảng 8 cm, có hàng trăm kiểu dáng. Ban đầu chỉ là một danh mục rất bình thường trong Pop Mart, nhưng từ nửa cuối năm 2015, nó bất ngờ bùng nổ.

Doanh số từ vài nghìn chiếc mỗi tháng tăng vọt lên hàng chục nghìn rồi hàng trăm nghìn. Nhiều phiên bản giới hạn vừa ra đã bán sạch, thậm chí xuất hiện cảnh khách xếp hàng tranh mua.

Sonny Angel đã mang đến cho Pop Mart một thị trường khổng lồ: thị trường đồ chơi sưu tầm. Các mô hình figure dựa trên nhân vật anime, manga, game, phim ảnh có lượng fan cực lớn, nhưng phần lớn IP (sở hữu trí tuệ) đều ở nước ngoài và chưa phát triển mạnh tại Trung Quốc.

dien-thuyet.png
Vương Ninh diễn thuyết về lý thuyết sống và kinh doanh. Ảnh: Baidu.

Vương Ninh nhận ra thị trường figure “nhị thứ nguyên” (2D, mô hình 3D) và đồ chơi sưu tầm có sự giao thoa. Blind box IP phần lớn là sáng tác nghệ thuật, không cần tích lũy nội dung lâu dài, người tiêu dùng mua vì ngoại hình đẹp, đáp ứng gu thẩm mỹ cá nhân hóa của giới trẻ.

Nắm bắt nhu cầu này, Vương Ninh đã chuyển Pop Mart từ một công ty bán lẻ đơn thuần thành nền tảng doanh nghiệp chuỗi giá trị hoàn chỉnh, bao gồm: kinh tế nghệ sĩ, ươm tạo IP, bán lẻ, quảng bá văn hóa xu hướng.

Pop Mart dần chuyển mình từ nhà phân phối đồ tạp hóa xu hướng sang nhà bán lẻ đồ chơi xu hướng, thậm chí là đơn vị vận hành thương hiệu IP. Hàng loạt IP và series ra mắt sau đó đã bùng nổ một thị trường hoàn toàn mới. Pop Mart ngày càng được nhiều người biết đến và bước vào giai đoạn tăng trưởng thần tốc.

Ngày 11/12/2020, Pop Mart chính thức niêm yết trên Sàn chứng khoán Hong Kong, trở thành công ty có giá trị thị trường hàng trăm tỷ. Sau khi lên sàn, với Pop Mart và Vương Ninh, hành trình thành công đã thực sự bắt đầu…

Ver2Solution theo Wforum, Ctee, Baidu

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .