Xu Hướng
Gamification marketing là gì? 5 chiến dịch gamification nổi tiếng
Gamification marketing là một công cụ đại diện cho một hướng đi marketing hoàn toàn mới giúp doanh nghiệp thành công trong việc thu hút khách hàng. Vậy Gamification marketing là gì, có ưu điểm và nhược điểm ra sao và tác động thế nào đến chiến dịch marketing của doanh nghiệp, cùng SO9 tìm hiểu trong bài viết dưới đây.
1. Gamification marketing là gì?
Trước khi tìm hiểu gamification marketing là gì, ta cần hiểu thế nào là gamification. Gamification (trò chơi hoá) hiểu đơn giản là quá trình áp dụng các kỹ thuật trong game như luật chơi, cách chơi,… tích hợp vào các nền tảng mobile, website, social marketing,… nhằm giúp tăng số lượng người sử dụng tham gia.
Trong những năm gần đây, thuật ngữ Gamification đã và đang trở thành một “buzz-words” trong nhiều lĩnh vực khác nhau như truyền thông, product design, software product development, thậm chí cả trong quản lý và điều hành doanh nghiệp (Enterprise game).
1.1. Định nghĩa Gamification marketing
Gamification marketing là quá trình kết hợp cơ chế trò chơi vào các ứng dụng thực tiễn trong marketing, giáo dục hoặc quản trị. Việc vận dụng phù hợp các cơ chế trò chơi như thành quả đạt được, hệ thống vai trò, sự tiến triển và phần thưởng,….sẽ khiến khách hàng cảm thấy thu hút, từ đó giúp khách hàng ghi nhớ sâu hơn hình ảnh thương hiệu hoặc trải nghiệm với sản phẩm của thương hiệu bạn.
Gamification khuyến khích sự tham gia của người dùng, được coi là công cụ với nhiều cảm hứng sáng tạo tạo điều kiện giúp công ty tạo ra ưu điểm cạnh tranh khác biệt và độc đáo từ đó xây dựng được sự tin tưởng và trung thành từ phía khách hàng tới công ty. Có không hề ít tập đoàn lớn đã ứng dụng gamification, bao gồm như: Starbucks và Nike, Pepsi, Coca, Dominos, Shopee, Tiki… Mỗi công ty đang linh động hơn trong việc tìm ra những cách thức thông minh gamification để làm thế nào quyến rũ và tăng tương tác với khách hàng.
1.2. 3 yếu tố của động lực trong Gamification marketing
Trong cuốn sách “Gamify: Cách trò chơi thúc đẩy mọi người làm những điều phi thường”, tác giả Burke đã nói đến đến sự thành công của Gamification marketing được bắt nguồn từ ba yếu tố động lực: mục đích, quyền tự chủ và khả năng làm chủ. 3 động lực này được đặt ra dựa trên sự khai thác các yếu tố bên trong như mang đến cảm giác may mắn, xây dựng lòng tin,… thay vì khai thác các giá trị bên ngoài như phần thưởng bằng tiền,…
3 yếu tố của động lực như sau:
- Mục đích: Không giống như các trò chơi thông thường, Gamification marketing khai thác cảm xúc của người chơi. Theo tác giả Burke: “Gamification marketing thu hút người chơi ở mức độ cảm xúc để giúp đạt được mục tiêu có ý nghĩa đối với họ”.
- Quyền tự chủ: Người tham gia được đưa ra lựa chọn tiếp tục trò chơi hay dừng lại, hoặc lựa chọn các trường hợp quyết định đến hướng phát triển tiếp theo của hành trình trò chơi.
- Khả năng làm chủ: Khi người chơi có thể hiểu và làm chủ trò chơi, điều này tạo cho họ động lực để tiếp tục và cố gắng hơn. Động lực thúc đẩy người chơi tham gia lúc này không còn là những phần thưởng mang giá trị về vật chất mà chính là từ cảm xúc.
Khi ứng dụng 3 động lực này trong kinh doanh, marketing và giáo dục, chúng ta có thể thực sự hiểu gamification marketing và triển khai đúng cách nhằm đạt được kết quả cao nhất.
1.3. 5 nguyên tắc tâm lý ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng
- Cảm xúc tích cực: Khi mọi người đạt được thành tựu dù lớn hay nhỏ thì vẫn sẽ luôn tạo ra sự hài lòng và niềm vui cho người chơi, kích thích họ đạt được nhiều thành tích hơn. Trong bối cảnh của Gamification Marketing hiện nay, khi người chơi tham gia một trò chơi của bạn và nhận được phần thưởng. Thương hiệu của bạn sẽ nhận được nhiều đánh giá và được nhắc đến một cách tích cực.’
- Tính gắn kết: Tất cả chúng ta đều cần một thứ gì đó trong cuộc sống của mình mà hoàn toàn đưa chúng ta có thể hưởng thụ hết những khoảnh khắc của hiện tại, tạo ra một “dòng chảy” hạnh phúc khi đắm chìm trong đó. Nếu bạn có thể tạo ra một trải nghiệm phong phú trong chiến dịch marketing của mình thông qua phần thưởng mong muốn, trải nghiệm người dùng thú vị hay môi trường cạnh tranh thì loại “luồng” tương tác này rất quan trọng để nâng cao trí tuệ, kỹ năng và khả năng cảm xúc của chúng ta.
- Thành tích: Có những mục tiêu có thể đạt được và khi đạt được có thể mang lại cho các cá nhân cảm giác tự hào, thỏa mãn và hài lòng. Sự liên kết thương hiệu gắn liền với việc khách hàng đạt được mục tiêu theo đuổi của họ và có thể mang lại kết quả dài hạn vô cùng tích cực. Điều này dẫn đến việc ngại sự mất mát của người chơi. Các nghiên cứu cho thấy, ở mức độ tâm lý, tổn thất có thể ảnh hưởng gấp đôi lợi nhuận. Điều này cho thấy rằng người chơi thà tránh thua lỗ hơn là thua được lợi nhuận tương đương.
- Các mối quan hệ: Các mối quan hệ và kết nối xã hội là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của cuộc sống. Con người phát triển mạnh nhờ sự kết nối, vì vậy khi môt chiến dịch Gamification khai thác vấn đề này thông qua các yếu tố như bảng xếp hạng hoặc chia sẻ chúng trên mạng xã hội, điều này sẽ cho phép người chơi so sánh thành tích và tham gia vào cạnh tranh công bằng, từ đó người chơi sẽ có suy nghĩ về sự hoàn thành trong lĩnh vực kết nối.
- Ý nghĩa: Ai cũng đều có cho mình mục đích và ý nghĩa sống ngoài việc chỉ đơn thuần theo đuổi thú vui và các của cải vật chất. Khi nói đến game hóa, việc bổ sung đơn giản một câu chuyện để giới thiệu vào game chẳng hạn như đưa ra lý do đằng sau một trò chơi cùng với phần thưởng mà khách hàng mong muốn sẽ là tất cả những gì cần thiết để khách hàng tham gia vào cuộc hành trình với cảm giác tự hào. Sau cùng, khi được giao một nhiệm vụ với một lý do rõ ràng đằng sau, cùng với một mục tiêu cụ thể để hướng tới, game sẽ đạt được cả sự quan tâm và mức độ tương tác của khách hàng.
2. Cơ chế hoạt động của Gamification marketing
Cơ chế hoạt động của gamification marketing là đánh vào tâm lý con người. Con người luôn muốn vui vẻ, tham gia vào các cuộc chơi, muốn được thưởng, thể hiện bản thân, thành tích cạnh tranh.
Ba tâm lý chính của con người thường thấy là:
- Ai cũng muốn được thưởng: Khuyến khích người chơi “săn” phần thưởng khi sử dụng mang lại lợi ích cả 2 bên (người chơi & doanh nghiệp).
- Lòng đố kỵ, ghen tỵ: Con người luôn ghen tỵ những thứ xung quanh. Tâm lý là cái mình đạt được mà người khác không đạt được thì càng thích thú. Thích thú khi đạt được thứ mà mình đạt được người khác không đạt được, tận hưởng niềm vui chiến thắng. Ví dụ: Chơi gamification trúng voucher giảm giá 50%, đem voucher 20% đi mua hàng.
- Thể hiện bản thân phải chiến thắng: Con người luôn muốn chinh phục chiến thắng mọi thứ. Khi chơi game chưa nhận được phần thưởng cao nhất, họ sẽ làm mọi thứ để chinh phục thứ họ muốn. Ví dụ: phải chia sẻ cho bạn bè mới được chơi tiếp, mầm mống chiến dịch lan truyền viral từ đây.
Chiến dịch gamification marketing nào thỏa mãn đủ 3 tiêu chí này chắc chắn sẽ rất thành công và mang lại kết quả tốt cho thương hiệu.
3. Ưu và nhược điểm của Gamification marketing khi áp dụng trong các chiến dịch
3.1. Ưu điểm
- Gamification marketing làm tăng sự tham gia của khách hàng trung thành, khách hàng tiềm năng và đối tác. Việc tặng thưởng cho họ (không nhất thiết phải là hiện vật, nó cũng có thể là sự công nhận hoặc thậm chí là những nội dung có giá trị) có thể làm tăng lòng trung thành và cảm giác tích cực của họ đối với doanh nghiệp.
- Gamification marketing nói lên ý thức về thành tích và sự cạnh tranh của mọi người. Mọi người muốn được chú ý và nhận phần thưởng. Việc thực hiện trò chơi tốt hơn so với các đồng nghiệp hoặc những người tiêu dùng khác sẽ để lại cho họ một cảm giác thành tích – khiến họ thỏa mãn.
- Nó sẽ giúp khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp xác định lẫn nhau. Có các công cụ gamification marketing có thể giúp doanh nghiệp phân khúc khách hàng tiềm năng của mình, từ đó có thể đưa ra những đề xuất mang tính cá nhân được yêu thích hơn.
3.2. Nhược điểm
Tuy nhiên, khi áp dụng gamification marketing vào các chiến dịch của doanh nghiệp, các nhà quản lý cần cân nhắc những nhược điểm sau đây:
- Gamification marketing đôi khi có thể được áp dụng theo những cách chung chung. Một số doanh nghiệp nghĩ rằng bằng việc thêm bảng xếp hạng và huy hiệu vào một số quy trình, họ đã tạo ra một trải nghiệm thú vị. Tuy nhiên, Gamification còn hơn thế nữa, doanh nghiệp cần cân bằng giữa hợp tác và cạnh tranh để tạo nên một chiến dịch Gamification thành công.
- Việc ép buộc tham gia vào quá trình Gamification marketing sẽ không cần thiết bởi khi đó niềm vui, sự cạnh tranh giữa nhân viên hoặc người tiêu dùng sẽ không có, khiến họ nản chí mà không muốn tiếp tục.
- Trò chơi tại nơi làm việc có thể trở nên tẻ nhạt và khó tạo động lực cho người chơi. Đây là một thách thức cho các nhà phát triển để giữ cho các trò chơi luôn đổi mới, vui vẻ và tạo động lực.
4. Những lưu ý khi áp dụng Gamification vào chiến dịch marketing
Khi áp dụng gamification marketing, các marketer cần lưu ý ở 3 điểm quan trọng sau đây:
4.1. Hiểu rõ khách hàng mục tiêu
Các marketers cần xác định đúng nhóm khách hàng mà doanh nghiệp đang hướng đến để có thể xây dựng kịch bản và luật chơi sao cho phù hợp. Nhóm đối tượng khách hàng của bạn được xác định dựa trên nhu cầu của họ với sản phẩm ở các độ tuổi khác nhau, những từ khóa mà họ đang tìm kiếm liên quan đến sản phẩm.
Phân tích khách hàng mục tiêu, nói cách khác, chính là vẽ chân dung rõ nét của họ:
- Khách hàng là ai?
- Khách hàng nhìn như thế nào?
- Khách hàng có sở thích gì?
- Khách hàng thường tương tác ở đâu, quan tâm những thông tin gì?
Ví dụ:
- Nhóm khách hàng thế hệ Z: thích giá rẻ vì vẫn đang độ tuổi đi học, họ không ngại chia sẻ cho bạn bè để được nhận quà và thích sự cá tính khác biệt. Bạn có thể chọn những phần quà không cần quá đắt tiền nhưng phải có sự khác biệt và cá tính trong đó, món quà giải quyết được đúng vấn đề nhóm khách hàng đang quan tâm.
- Nhóm khách hàng thế hệ Y: Họ là thế hệ đã kiếm được tiền, đã có nhiều trải nghiệm mua hàng từ các thương hiệu, họ cũng không ham rẻ, họ cũng nhận thấy không có món quà nào là miễn phí mà chất lượng cả. Thay vì tặng quà là vật phẩm bạn có thể tặng nhóm khách hàng những voucher giảm giá, chơi gamification để được mua sản phẩm với giá hời….
4.2. Xác định mục tiêu của chiến dịch Gamification marketing
Để tránh việc cứ đến dịp ngày lễ hay một sự kiện nào đó bạn đều muốn làm một cái gì đó mới mẻ và rất cảm tính, thì hãy ngồi xuống và lên những mục tiêu rõ càng. Vì đơn giản khi có mục tiêu rõ ràng bạn có thể làm mọi việc tốt hơn với cùng một nguồn lực bỏ ra. Một số chiến dịch gamification marketing được sử dụng thường để:
- Dùng gamification marketing để xả hàng tồn
- Thu thập thông tin khách hàng từ gamification marketing
- Tăng nhận diện thương hiệu và tương tác với khách hàng
- Tri ân khách hàng
- Upsell và tăng doanh số
4.3. Thiết lập phần thưởng hấp dẫn cho chiến dịch gamification marketing
Phần thưởng là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của chiến lược Gamification bất kỳ. Xác định những gì bạn muốn cho đi như một sự khích lệ hoặc một món già có giá trị thực tế mà khách hàng có thể sử dụng. Quà tặng bạn chọn có thể là:
- Voucher.
- Mã giảm giá.
- Sản phẩm, hiện vật.
Hãy chắc chắn rằng phần thưởng đó làm khách hàng mục tiêu của bạn đủ thích để sẵn sàng bỏ công sức và thời gian để tham gia trò chơi. Một số lưu ý khi bạn chọn phần thưởng cho chiến dịch:
- Phần thưởng phải thật và chất lượng.
- Thể lệ nhận quà nên rõ ràng, minh bạch.
- Phần thưởng nên có voucher, mã giảm giá.
- Không nên chọn phần thưởng có giá trị quá cao khiến khách hàng cảm thấy chương trình đang “dùng chiêu trò”.
5. Một số chiến dịch Marketing Gamification truyền cảm hứng cho thương hiệu học hỏi
5.1. My Starbucks Reward
Triết lý của Starbuck là luôn tập trung vào dịch vụ cá nhân có lợi cho người tiêu dùng. Phần lớn mô hình kinh doanh của họ dựa trên môi trường xung quanh. Thương hiệu đã sử dụng các chiến thuật chơi game để nâng cao trải nghiệm Starbuck và cũng để tăng doanh số cho doanh nghiệp. Người chơi đăng ký My Reward thông qua một ứng dụng. Mỗi khi họ mua một sản phẩm của Starbucks, họ tích lũy các ngôi sao (có hình dạng như những chiếc cốc được đổ đầy đồ họa).
Có ba cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào mức độ trung thành của người dùng. Các chuyến thăm thường xuyên hơn đến một cửa hàng Starbucks sẽ được nâng cấp thường xuyên hơn. Ví dụ về các lợi ích bao gồm: thêm một tách cà phê, một món quà sinh nhật hoặc thậm chí các ưu đãi được thiết kế đặc biệt cho khách hàng. Kết quả là, trong năm 2012, tổng số người dùng My Reward khoảng 4,5 triệu. Chỉ riêng các thẻ đã chiếm 3 tỷ đô la doanh thu mỗi năm.
5.2. Nike+ Fuelband
Nike đã ra mắt ứng dụng này vào tháng 1 năm 2012. Và kể từ đó, nó đã phát triển thành một môn thể thao phổ biến đối với người tiêu dùng. Công ty đã mở rộng từ một thương hiệu sản phẩm nổi tiếng thành một người bạn tích cực thúc đẩy người tiêu dùng thay đổi lối sống để trở nên lành mạnh hơn.
Phụ kiện phổ biến nhất cho đến nay là Nike+ Fuelband, đây là chiếc vòng đeo tay với công nghệ đặc biệt có thể theo dõi chuyển động của người dùng. Người tham gia phải tải xuống Ứng dụng Nike+ và theo dõi phong trào tập luyện của họ. Những thống kê (như số lượng calo được đốt cháy) được hiển thị sau đó sẽ cung cấp phản hồi dành cho người dùng.
Các nhà thiết kế trò chơi thông minh của sản phẩm này cũng thiết kế thêm những nền tảng social media để chắc chắn người dùng có thể mở rộng nhu cầu và nhận thức về sản phẩm tới những người xung quanh. Người tham gia có cơ hội thử thách bạn bè. Điều này cung cấp động lực lớn giúp học sử dụng ứng dụng thường xuyên hơn.
5.3. Coca-Cola’s Shake It
Coca-Cola được biết đến là nhân tố đầu ngành trong việc phát triển các chương trình khuyến mãi sản phẩm sáng tạo. Bạn có thể thấy rằng tất cả các quảng cáo của họ đều cố gắng biến những hành động đơn giản như việc uống nước có ga trở thành những hành động rất kích thích và thú vị. Tại Hồng Kông, thanh thiếu niên được cung cấp một ứng dụng miễn phí cho điện thoại của họ. Một chương trình truyền hình chạy vào buổi tối yêu cầu người hâm mộ chạy ứng dụng đó và lắc điện thoại để giành được những khuyến mại giảm giá từ Coca và giải thưởng khác từ các đối tác như McDonald.
Coca Cola sáng tạo chiến dịch này với nhiệm vụ truyền tải sứ mệnh của mình. Công ty thành công trong việc mang lại hạnh phúc và sự lạc quan trên thế giới, bằng cách tạo ra quảng cáo cho phép những người trẻ tuổi tương tác nhiệt tình với thương hiệu.
5.4. Shopee Gamification marketing
Gamification lắc xu là một trong những chiến dịch thành công trong marketing của Shopee, được áp dụng hàng tháng. Với mỗi lần rủ bạn bè, thêm bạn vào nhóm sẽ tăng thêm xu và khiến người tiêu dùng thích thú chờ đợi đến đúng giờ để cầm điện thoại lắc xu rơi xuống đã giúp ứng dụng bán hàng ngày càng tiếp cận thị trường Việt Nam và vượt qua nhiều đối thủ cùng ngành nhanh hơn.
5.5. Domino Pizza
Gamification có tên Pizza Hero của chuỗi nhà hàng Domino’s Pizza được phát hành đầu tiên vào năm 2012. Ý tưởng cho Gamification là để người chơi có thể tự tạo và tùy chỉnh những chiếc pizza của riêng mình. Nếu ai đó thích và muốn mua pizza của bạn, thì bạn sẽ nhận được một khoản lợi nhuận nhất định.
Con số ấn tượng chiến dịch Gamification của Domino’s Pizza mang lại:
- Tăng 30% doanh số trong suốt chiến dịch.
- 7.059.325 triệu cái pizza đã được làm thông qua ứng dụng của Domino’s
- Hơn 328.610 lượt tải ứng dụng, đạt top 3 các ứng dụng được download nhiều nhất trên appstore của Ipad lúc bấy giờ.
- 800 người tìm được việc làm ở các cửa hàng Domino’s pizza gần nhà
Sau thành công chiến dịch Pizza Hero, Domino’s pizza lại phát hành một ứng dụng khác tên Piece of the Pie với mô hình tương tự. Với mỗi 60 điểm đạt được, người dùng có thể đổi lấy 2 loại bánh pizza cỡ vừa.
Gamification marketing mang đến cho thương hiệu những hiệu ứng tích cực để tương tác với khách hàng, quảng bá thương hiệu hay tăng doanh thu. Tuy nhiên, các nhà quản lý nên cân nhắc những lưu ý khi áp dụng gamification marketing để tránh những tác động tiêu cực.
Nguồn: SO9.VN
Xu Hướng
Philippines chật vật đáp ứng cơn sốt khoai mỡ tím toàn cầu
Cơn sốt khoai mỡ tím đang tăng nhanh trên thế giới, trong khi nông dân Philippines gặp nhiều trở ngại để đáp ứng cơn sốt này.
Teresita Emilio, 62 tuổi, quan sát kỹ xung quanh rồi ngồi xuống cạnh một gốc cây khó nhìn thấy bằng mắt thường trên ngọn đồi ở Benguet, tỉnh miền núi phía tây đảo Luzon của Philippines. Bà bắt đầu đào chậm rãi bằng thuổng, rồi dùng tay tiếp tục bới đất.
“Tôi cần phải cẩn thận. Tôi không muốn làm nó bị sứt”, Emilio vừa nói vừa luồn tay vào hố nhỏ rồi kéo mạnh.
Một tiếng “rắc” vang lên. Bà nhẹ nhàng kéo ra phần rễ củ mập mạp, phần đầu ánh lên màu tím. Đó là khoai mỡ tím, còn gọi là ube. Loại củ với màu sắc đặc trưng này đang tạo ra cơn sốt trên thế giới, nhu cầu ngày càng tăng trong khi những nông dân như bà Emilio không theo kịp để đáp ứng.
Ube là loại nông sản bản địa của Philippines, có vị ngọt và thoảng mùi đất cùng màu tím nổi bật, thường bị nhầm với khoai môn. Chúng chủ yếu được trồng trên các thửa ruộng nhỏ, mang tính mùa vụ, từ lâu đã được chế biến thành mứt, kem và bánh. Ube halaya, một loại mứt sánh mịn màu tím đậm được làm từ ube luộc chín, nghiền nhuyễn, nấu với nước cốt dừa hoặc sữa đặc và bơ, là một ví dụ.
“Ube được xem là món tráng miệng độc đáo và quan trọng ở Philippines”, Raymond Macapagal, phó giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Philippines, trả lời Arab News.
“Nó có thể được thưởng thức riêng hoặc dùng để tạo sắc tím bắt mắt cho món tráng miệng khác. Trong ẩm thực Philippines, ube gần như chỉ được sử dụng cho món ngọt, nhưng gần đây đã xuất hiện công thức thử đưa ube vào các món mặn”, ông Macapagal tiếp tục.
Sắc tím bắt mắt cùng hương vị nhẹ nhàng khiến ube nhanh chóng lan truyền trên thế giới. Ở khu Sunnyside, thành phố New York, Mỹ, nhiều người xếp hàng trước một tiệm bánh từ khi cơ sở chưa mở cửa để chờ mua bánh doughnut brioche phủ lớp men tím óng ánh. Tại Paris, Pháp, thực khách nhâm nhi những ly latte sắc tím, hương bùi dịu nhẹ.
“Đây là loại ‘matcha mới'”, Cheryl Natividad-Caballero, Thứ trưởng Nông nghiệp Philippines phụ trách các loại cây trồng giá trị cao, trong đó có ube, nói. “Trước yêu cầu ngày càng lớn từ nhu cầu tăng cao, chúng tôi buộc phải cải thiện hệ thống”.
Cơ sở dữ liệu về nông nghiệp và lương thực của Liên Hợp Quốc không tách riêng số liệu xuất khẩu ube khỏi các loại khoai khác, nhưng theo giới chức và các nhà khoa học, Philippines là nước xuất khẩu ube lớn nhất thế giới.
“Chúng tôi vẫn là nhà sản xuất hàng đầu”, bà Natividad-Caballero nói. “Các nước khác thậm chí còn không biết ube là gì suốt một thời gian dài và thường nhầm nó với các giống khoai lang tím. Đó là hai thứ hoàn toàn khác nhau”.
Philippines đang đối mặt nhiều thách thức để duy trì vị thế này. Sản lượng ube thường niên đã giảm từ hơn 15.000 tấn năm 2021 xuống còn 14.000 tấn trong hai năm vừa qua. Xuất khẩu tăng gấp 4 lần trong những năm gần đây, lên hơn 200 tấn mỗi năm, hơn nửa trong số này xuất sang Mỹ. Philippines thậm chí phải nhập khẩu một phần ube từ Việt Nam để đáp ứng nhu cầu trong nước.
“Tổng nguồn cung chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu”, bà Natividad-Caballero nói.
Cơn sốt xoay quanh ube là điều hoàn toàn mới với những nông dân như Emilio. Bà học cách trồng loại củ này từ bé, trên triền đồi ở Benguet. Những củ khoai khi đó thường dành cho hàng xóm và người chịu khó vượt núi tìm đến mua. Mọi thứ hoàn toàn khác với “cơn thèm” của thế giới lúc này.
“Tôi từng có rất nhiều ube, nhiều khi còn bỏ đi”, bà nói. “Còn bây giờ, chúng đang dần cạn kiệt”.
Một nguyên nhân khiến ube khan hiếm là thiếu cây giống. Những nông dân như bà Emilio đang bán gần như toàn bộ ube thu hoạch được vì giá tăng cao. Đến cuối vụ, họ hầu như không còn gì để làm giống cho vụ sau. Ube cũng có thể trồng từ hạt, nhưng cách này rất chậm và thiếu ổn định.
Jenelyn Banares, nông dân trồng ube ở thị trấn San Francisco, tỉnh Quezon, miền nam đảo Luzon, cũng rơi vào tình cảnh tương tự. “Tôi đã thử mua giống từ những nông dân khác, nhưng họ cũng không còn củ để trồng”, bà Banares nói.
Biến đổi khí hậu cũng là mối đe dọa.
Ube được coi là một trong những loại cây sống khỏe nhất ở Philippines, phát triển tốt trong cả mùa khô và mùa mưa tại nước này, theo bà Grace Backian, nhà nghiên cứu hàng đầu về ube tại Đại học Bang Benguet.
Đất khô và ánh nắng mạnh thúc đẩy ube ra rễ và lá. Mưa sau đó làm củ phình to, đôi khi nặng tới hơn 10 kg. Nhưng mọi thứ đã bị đảo lộn do biến đổi khí hậu.
“Bây giờ không thể biết khi nào trời mưa, khi nào trời nắng”, bà Banares nói.
Những tháng thường khô giờ đây lại mang mưa, khi các cơn bão mạnh tấn công quần đảo thường xuyên hơn. Tháng 11 này, ngay đầu vụ thu hoạch ube, hai cơn bão đã quét qua quần đảo chỉ trong một tuần.
Nếu mưa quá nhiều, ube sẽ bị úng nước, thối trong đất. Nếu gió mạnh làm rách quá nhiều lá, cây hấp thụ ánh sáng kém và héo úa. Khi khu vực trồng ube bị tàn phá, nông dân Philippines cũng không có giải pháp nào để xử lý nhanh chóng. Họ phải chờ đến vụ tiếp theo để bắt đầu lại.
Trong khi đó, chính phủ Philippines lại đang cắt giảm sự hỗ trợ dành cho nông dân. Ngân sách phân bổ cho Bộ Nông nghiệp để phát triển ube năm 2026 giảm 10%, xuống còn khoảng 10 triệu peso (170.000 USD), bà Natividad-Caballero cho biết. Bộ dự kiến dùng số tiền này để chuyên canh ube, từ đó tạo thêm cây giống cho nông dân.

Bánh muffin với màu tím từ ube Philippines. Ảnh: Arab News
Trên triền đồi Benguet, bà Emilio đặt những củ ube vừa đào lên một tảng đá phủ rêu ngoài nhà để rửa. Emilio kể rằng bà bắt đầu trồng ube sau mùa dứa vì nó giúp nuôi sống gia đình trong mùa mưa. Ube giúp bà luôn nhớ ký ức về mẹ và cảm thấy gần gũi hơn với nông dân khác trong thị trấn.
Bà nhấn củ ube dưới nước lần cuối và vỗ nhẹ. “Tôi nghĩ mình sẽ trồng củ này”, bà nói.
Ver2Solution theo VNexpress
Xu Hướng
5 món hàng được shipper giao nhiều nhất mỗi ngày
Nếu muốn biết người Việt đang mua gì nhiều nhất trên các sàn thương mại điện tử, đôi khi không cần nhìn báo cáo doanh số. Chỉ cần hỏi shipper, những người mỗi ngày chở theo hàng chục, thậm chí hàng trăm đơn hàng len lỏi khắp phố phường, câu trả lời sẽ hiện ra rất rõ những mặt hàng shipper giao nhiều nhất mỗi ngày.
Qua chia sẻ của nhiều shipper giao hàng tổng hợp cho các sàn thương mại điện tử, doanh nghiệp/cửa hàng… có những mặt hàng xuất hiện với tần suất dày đến mức chỉ cần nhìn hình dáng thùng, trọng lượng đơn là họ đoán được bên trong là gì. Không phải món xa xỉ, cũng không phải hàng quảng cáo ồn ào, mà là những thứ gắn chặt với sinh hoạt hằng ngày.
1. Đồ uống (nước hoa quả, trà sữa, cafe…)
Đây là nhóm hàng được giao nhiều hơn hẳn so với vài năm trước. Không chỉ nước suối hay nước ngọt, mà cả cafe, trà hoa quả, trà sữa… cũng xuất hiện dày đặc trong các đơn giao, đặc biệt tại khu văn phòng và chung cư. Khác với đồ tiêu dùng mua tích trữ, các đơn đồ uống này thường được đặt theo từng ly, giao theo khung giờ cố định trong ngày.
Theo chia sẻ của shipper, cao điểm giao đồ uống rơi vào buổi sáng và đầu giờ chiều, khi dân văn phòng cần tỉnh táo để bắt đầu hoặc tiếp tục công việc. Cafe pha sẵn, trà hoa quả và trà sữa được đặt nhiều vì chỉ cần mở ra là uống ngay, không cần pha chế hay chuẩn bị thêm. Điểm đáng chú ý là nhóm đồ uống này có tần suất lặp lại rất cao. Có những địa chỉ gần như ngày nào cũng xuất hiện đơn cafe hoặc trà sữa vào cùng một khung giờ. Không phải vì mua nhiều một lúc, mà vì thói quen tiêu dùng đã hình thành, uống xong là hôm sau lại đặt tiếp.
2. Trái cây đóng hộp, đồ ăn vặt và hạt dinh dưỡng
Trái cây cắt sẵn, trái cây sấy, hạt dinh dưỡng, bánh snack là nhóm đơn shipper giao rất đều tay. Đơn thường gọn, nhẹ nhưng xuất hiện liên tục cả ngày, nhất là vào giờ nghỉ trưa và buổi tối. Theo shipper, nhóm này được đặt nhiều vì đánh trúng tâm lý ăn vặt nhưng vẫn muốn tiện và “đỡ áy náy”. Trái cây đóng hộp vừa dễ bảo quản, vừa dễ ăn ngay, phù hợp với nhịp sống bận rộn. Nhiều khách đặt quen một shop, gần như không đổi, chỉ hết là mua lại.
3. Quần áo basic, đồ mặc nhà
Không phải thời trang cầu kỳ hay đồ theo trend, mà là áo thun trơn, đồ mặc nhà, đồ ngủ, đồ lót cơ bản. Đây là nhóm hàng shipper giao đều quanh năm, tăng mạnh vào các dịp sale. Lý do là giá vừa túi tiền, dễ mặc, ít rủi ro. Người mua không cần suy nghĩ quá nhiều, thấy ổn là đặt, mặc hợp thì mua thêm. Với shipper, những gói hàng mềm, nhẹ, kích thước quen thuộc này xuất hiện dày đặc đến mức trở thành “nhận diện thương hiệu”.
4. Đồ gia dụng nhỏ, mua là dùng ngay
Hộp đựng đồ, móc treo, khăn lau, thớt, kệ nhỏ, đồ nhà bếp cỡ nhỏ là nhóm hàng chiếm tỉ lệ lớn trong các đơn TMĐT. Không đắt tiền, không cần lắp đặt, mua về dùng ngay nên người tiêu dùng rất dễ quyết định. Shipper cho biết, nhóm này thường được mua theo kiểu thấy tiện là đặt, thậm chí mua thêm vài món cùng lúc để đủ đơn freeship. Chính thói quen này khiến đồ gia dụng nhỏ luôn nằm trong top hàng được giao nhiều.
5. Mỹ phẩm cơ bản và đồ chăm sóc cá nhân
Sữa rửa mặt, dầu gội, kem đánh răng, băng vệ sinh, giấy ướt là nhóm hàng có vòng lặp mua rất rõ. Không phải hàng cao cấp, mà là những món dùng hết là phải mua lại. Nhiều shipper nhận ra những địa chỉ quen mặt, cứ vài tuần lại giao đúng nhóm hàng này. Điều đó cho thấy người mua đã hình thành thói quen tiêu dùng ổn định, không còn mất thời gian so sánh hay đổi lựa chọn.
Nhìn từ góc độ shipper, có thể thấy rõ một xu hướng: người Việt đang chi tiền nhiều nhất cho những thứ tiêu hao hằng ngày, tiện lợi và dễ mua lại. Không cần quảng cáo rầm rộ, không cần câu chuyện thương hiệu phức tạp, chỉ cần đáp ứng đúng nhu cầu là đơn hàng tự chạy đều.
Với người tiêu dùng, những món được shipper giao lặp đi lặp lại mỗi ngày cũng chính là những thứ đã được “chọn lọc” bằng thói quen mua sắm thực tế. Nhìn vào đó, đôi khi cũng đủ để biết đâu là những món mua về dùng thật, chứ không chỉ đẹp trên quảng cáo.
Ver2Solution theo Phụ Nữ Số
Quốc Tế
Ngành nước hoa ăn nên làm ra trong năm kinh tế ảm đạm
Người tiêu dùng toàn cầu đổ xô mua nước hoa để tìm vui khi kinh tế ảm đạm, mang đến năm kinh doanh bùng nổ, với 6.000 mẫu mới.
Chín tháng đầu năm, kết quả kinh doanh nước hoa của hàng loạt tập đoàn như Estée Lauder, L’Oréal và Coty – sở hữu các thương hiệu Le Labo, Tom Ford, Valentino, Yves Saint Laurent, Emporio Armani, Ambre Antique, đều ấn tượng.
Estée Lauder cho biết doanh thu tăng 14%, bù đắp cho nhu cầu mỹ phẩm trang điểm chững lại. Coty dự báo quý cuối năm tích cực, đặt cược vào nhu cầu tăng mạnh đối với thương hiệu Calvin Klein và Hugo Boss.
Tại Mỹ, một nửa số người trưởng thành được hỏi cho biết sử dụng nước hoa mỗi ngày. Doanh số nước hoa cao cấp và phổ thông tại thị trường này tăng lần lượt 6% và 17% trong 9 tháng. Diễn biến tương tự ở Trung Quốc, nơi nước hoa Chance của Chanel thành công lớn.
Trước đó, dữ liệu của hãng nghiên cứu Circana cho biết, doanh số nước hoa cao cấp toàn cầu tăng 6%, lên 3,9 tỷ USD. Kết quả này vượt xa ngành mỹ phẩm trang điểm và chăm sóc da, lần lượt tăng 1% và giảm 1% cùng giai đoạn.
Từng được xem là thú tiêu dùng xa xỉ, nước hoa nay trở thành lựa chọn quen thuộc để thể hiện phong cách cá nhân và cải thiện tâm trạng trong bối cảnh kinh tế nhiều bất định, theo chuyên gia. Các nhà phân tích cho rằng đây là “hiệu ứng nước hoa”, một kiểu mới của “hiệu ứng son môi” (Lipstick Effect).
Phổ biến đầu những năm 2000 bởi Chủ tịch Estée Lauder Leonard Lauder, “hiệu ứng son môi” mô tả hiện tượng khi kinh tế suy thoái hoặc bất ổn, người tiêu dùng cắt giảm các khoản chi lớn (xe hơi, nhà cửa, du lịch xa xỉ), nhưng tăng chi cho những món “xa xỉ nhỏ” như son môi, mỹ phẩm để tự tìm những niềm vui nhỏ.
Năm nay, IMF dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ chậm lại từ mức 3,3% năm 2024 xuống 3,2%. Trong đó, các nền kinh tế phát triển dự kiến chỉ tăng khoảng 1,5%. Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tăng nhỉnh hơn, đạt 4%.
Nguyên nhân do tình trạng bất định kéo dài, xu hướng bảo hộ gia tăng và các cú sốc về nguồn cung lao động. Trong bối cảnh đó, mua nước hoa là sản phẩm xa xỉ vừa túi tiền, giúp người tiêu dùng tự an ủi, cải thiện tâm trạng nhờ tính cao cấp.
“Nước hoa là phân khúc sản phẩm mang đến người tiêu dùng cảm giác về uy tín, chất lượng, địa vị hoặc nuông chiều bản thân mà không phải trả mức giá của hàng hóa cao cấp, xa xỉ thực thụ”, Michael Ashley Schulman, Giám đốc đầu tư của Running Point, nhận định.
Tờ Le Monde cũng cho rằng một phần lý do giúp thị trường nước hoa phát đạt năm nay có thể do người tiêu dùng không còn đủ khả năng mua những chiếc túi xách có giá lên đến 3.000 euro sau làn sóng lạm phát.
Thay vào đó, các tín đồ thời trang hàng hiệu chuyển sang sắm nước hoa Hermès, Chanel hoặc Dior. Chuyên gia tư vấn Pierre Vouard chỉ ra chai nước hoa nhỏ trở thành “cách để tìm hiểu sự sang trọng, giống như chiếc túi xách ngày xưa”.
“Người tiêu dùng khi đó đang mua một phần của giấc mơ mà thương hiệu xa xỉ mang lại”, Vouard nói. Những người khác đã khám phá ra nước hoa nhờ các dòng sản phẩm giá cả phải chăng ở cửa hàng phổ thông hơn hoặc qua thương mại điện tử.
Nắm bắt nhu cầu, các hãng mỹ phẩm tăng cường tung sản phẩm mới, mở rộng phân phối và tiến hành các thương vụ mua bán – sáp nhập. Ước khoảng 6.000 loại nước hoa mới đã được ra mắt năm nay, so với 2.500 loại vào trước năm 2019.
Hàng loạt doanh nghiệp hàng xa xỉ, thời trang, mỹ phẩm xem nước hoa là trọng tâm trong chiến lược kinh doanh và đầu tư. Giám đốc tài chính Coty Laurent Mercier cho biết công ty sẽ mở rộng mảng kinh doanh này. Tập đoàn cũng cân nhắc bán các thương hiệu như CoverGirl và Rimmel để tập trung vào phân khúc nước hoa đang chiếm khoảng ba phần tư tổng doanh số.
Estée Lauder đã mở khoảng 40 cửa hàng nước hoa độc lập mới trên toàn cầu trong 3 quý đầu 2025, bao gồm các cửa hàng flagship mới ở SoHo (New York) và khai trương Fragrance Atelier toàn cầu tại Paris. Tháng 10, L’Oréal chi 4,7 tỷ USD để mua các thương hiệu mỹ phẩm và nước hoa từ Kering.
Ngoài lý do kinh tế bất ổn, ngành nước hoa cũng có những động lực khác. Kendal Ascher, Giám đốc cấp cao của Estée, nói nước hoa đang trải qua thời điểm quan trọng. “Thu nhập tăng và sự mở rộng tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông đang thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của ngành”, ông nhận định.
Cách sử dụng nước hoa cũng thay đổi. Giới kinh doanh cho biết kể từ sau Covid, người tiêu dùng trẻ tuổi đã liên tục thay đổi các loại nước hoa để phù hợp với lịch trình, làm mới buổi hẹn hò hoặc đơn giản là để hợp với tâm trạng.
Tại Pháp, 55% nam giới từ 18 đến 25 tuổi cho biết dùng nước hoa thường xuyên hơn 5 năm trước, theo khảo sát của Ipsos. Họ chuộng những loại lưu hương mạnh, theo Stéphane de La Faverie, CEO Estée Lauder. Trong khi đó, ở Trung Quốc, Phó chủ tịch của L’Oréal Karine Lebret cho biết khách hàng có xu hướng phi giới tính. Nhiều phụ nữ lại chuộng sử dụng nước hoa nam hơn trước và ngược lại.
Ngoài ra, mạng xã hội góp phần lan truyền xu hướng dùng các loại nước hoa mùi hương táo bạo như trầm hương, hổ phách, chuối, hạt dẻ cười hoặc sữa ấm, theo Arnaud Guggenbuhl, Giám đốc tiếp thị hãng nước hoa Givaudan (Thụy Sĩ). “Khách hàng ngày càng am hiểu hơn và đang tìm kiếm những mùi hương và trải nghiệm độc đáo”, Yacout El Glaoui, Giám đốc chiến lược sản phẩm quốc tế của Chanel Parfums Beauté, cho biết.
Ver2Solution theo VNexpress (Reuters, Le Monde)
-
Trong Nước8 tháng agoBáo cáo thị trường nước hoa Việt Nam 2023-2025
-
Khởi Nghiệp9 tháng agoCách thương hiệu thời trang nội địa vượt “bão” đóng cửa hàng loạt
-
Công Nghệ Phần Mềm9 tháng agoSắp được mua sắm trực tiếp ngay trong cuộc trò chuyện với ChatGPT
-
Trong Nước8 tháng agoBáo cáo thị trường trang sức Việt Nam 2023-2025
-
Các Nền Tảng MXH10 tháng agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (17-23/03/2025)
-
Trong Nước9 tháng agoDoanh thu livestream tháng 3 năm 2025 tại Việt Nam
-
Xu Hướng9 tháng agoKhi sự tò mò của đám đông “nuôi dưỡng” nội dung độc hại trên mạng xã hội
-
Các Nền Tảng MXH8 tháng agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (18/5-24/5/2025)


