Connect with us

Tâm Lý Học NTD

Trả tiền thuê chỗ giả văn phòng làm việc

Published

on

Nếu không có việc làm, bạn có sẵn lòng trả tiền thuê một chỗ làm để giả vờ đi làm không? Trả tiền thuê chỗ giả văn phòng làm việc.

Nếu hoàn toàn có thể làm việc tại nhà, bạn có muốn thuê một chỗ làm chỉ để trải nghiệm việc ra khỏi nhà lúc 9h sáng và quay về lúc 5h chiều không? Cứ tưởng câu trả lời đều là không – không có việc thì tìm việc, và đã được ở nhà thoải mái ai lại muốn vất vả đi về? Nhưng ở Trung Quốc không thế.

Trong tiểu phẩm hài phát sóng hồi tháng 12-2024, một công ty tên “Giả vờ làm việc” có các nhân viên trả phí để đến văn phòng ngồi chơi, vờ bận rộn. Chuyện có ai ngờ, các video được gắn thẻ “cuộc sống công sở giả tạo” lại trở thành trào lưu lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội Xiaohongshu và Douyin cả năm nay, thu hút hơn 100 triệu lượt xem, theo thống kê của South China Morning Post.

Theo Nhân Dân Nhật Báo, tại một tòa nhà văn phòng ở khu Tĩnh An, Thượng Hải, một không gian làm việc chung mang tên Vidu bất ngờ nổi tiếng khi trở thành nơi tập trung những người trẻ tự bỏ tiền túi để thuê chỗ làm giả, hiện tượng được dân mạng đặt biệt danh là “công ty giả vờ đi làm”.

Họ không có công việc thực sự, nhưng sẵn sàng mua một chiếc bàn tạm thời như một cầu nối để duy trì thói quen và tiếp xúc với xã hội, cho thấy áp lực thất nghiệp và giữ thể diện đang nặng nề đến mức nào.

Trả phí để có cảm giác đang làm việc

Văn phòng cho thuê nơi giả đò làm việc xuất hiện nhiều ở các thành phố như Bắc Kinh, Hàng Châu, Thành Đô, Thượng Hải và Thâm Quyến. Với 30-50 nhân dân tệ (khoảng 4-7 USD) một ngày, người thuê chỗ không phải chấm công, có sẵn bàn làm việc, WiFi, bữa trưa, cà phê và không gian chẳng khác gì một văn phòng thật. Thậm chí phiếu lương, quản lý, bảo hiểm xã hội và chứng chỉ thực tập nếu cần cũng có luôn.

Công ty mở cửa từ 9h sáng tới 5h chiều, ai thích có thể ở lại đến 10-11h đêm. Theo Nhân Dân Nhật Báo, trên một số trang web mua theo nhóm, giá cho một ngày dùng thử chỗ ngồi 8 tiếng tại “công ty làm việc giả” chỉ là 9,9 nhân dân tệ.

Nhu cầu thị trường lớn nhanh đến nỗi một công ty ở Đông Quản bắt đầu quảng cáo trực tuyến vào tháng 4 mà đến tháng 5 đã kín chỗ. Tình trạng trở nên éo le khi ông chủ của công ty này phải “sàng lọc” ứng viên đến thuê chỗ, nghĩa là cơ hội “giả làm việc” cũng cạnh tranh khốc liệt.

Một công ty ở Thâm Quyến quảng cáo văn phòng của mình là “điều tuyệt vời nhất khi làm việc không phải là mức lương, mà là những người giả vờ bận rộn bên cạnh bạn”. Tờ The Online Citizen của Singapore đánh giá rằng tất cả những thứ này giúp một số người thất nghiệp cảm thấy an ủi vì duy trì được thói quen đi làm mỗi ngày, nuôi hy vọng môi trường chuyên nghiệp giả có thể “nhả vía” cơ hội công việc thật.

Những người có đầu óc kinh doanh đã nhanh chóng “chế” thêm nhiều phiên bản văn phòng “giả vờ làm việc” mới lạ. Chẳng hạn một studio dùng livestream cũng được thiết kế lại thành “văn phòng ảo”, một công ty luật tái sử dụng văn phòng bỏ không cho thuê, để luật sư thật ngồi làm việc cùng “nhân viên ảo” đang lướt TikTok hay chơi game giết thời gian.

Hay như một nông trại ở ngoại ô Bắc Kinh chuyển thành nơi mà người ta có thể trả lời email dưới vòm nắng và đào cà rốt vào giờ nghỉ trưa.

Tình nguyện dối lừa đổi lấy bình an tâm hồn

Mô hình “giả vờ làm việc” có thể coi là phao cứu sinh cho những người thất nghiệp. Phi Vũ, 30 tuổi, chủ một công ty mô hình này, chia sẻ rằng thứ anh bán không phải là chỗ ngồi, mà là một chỗ để giữ thể diện, “tránh sự kỳ thị vì thất nghiệp, tránh những ánh nhìn lo lắng, những câu hỏi khó xử của gia đình nếu biết mình vô công rỗi nghề”.

Chuyện này thật ra không quá lạ, bởi xã hội Nhật Bản trong đợt suy thoái kinh tế 1989 cùng nhiều áp lực cũng tạo ra một số ông chồng thất nghiệp. Sáng sáng họ mặc sơ mi đeo cà vạt xách cặp rời nhà rồi đến thư viện hoặc công viên ngồi suy nghĩ thẫn thờ và ngủ, chiều tới giờ tan tầm thì hòa vào dòng người về nhà. Nhìn mệt mỏi chẳng khác nào đi làm thật sự. Nhờ đó tránh nỗi xấu hổ với gia đình.

Khi công ty phá sản, Gia Vĩ, cựu nhân viên thương mại điện tử đến từ Hàng Châu, đã dành nhiều ngày ở quán cà phê để nộp đơn xin việc. Anh sẽ rời quán cà phê vào giờ tan làm thường lệ, thậm chí thỉnh thoảng ở lại đến khuya để bắt chước làm thêm giờ. Thất nghiệp rất căng thẳng, nhưng Gia Vĩ “không muốn truyền sự tiêu cực đó cho gia đình mình”, anh kể với hãng truyền thông Yunxi Technology (Trung Quốc).

Tương tự, Chen, 29 tuổi, cựu công nhân sản xuất chất bán dẫn ở tỉnh Hồ Bắc, đã chọn cách không nói với bạn gái mình sau khi bị sa thải vào năm ngoái. Với hai tháng tiền trợ cấp thôi việc, Chen dành thời gian ở thư viện để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển công chức cấp tỉnh sắp diễn ra.

thuê làm - Ảnh 2.

Ở nhà dễ bị xao nhãng nên nhiều người chọn đến văn phòng giả để hưởng chút không khí công sở. Ảnh: Xiaohongshu

Phi Vũ thống kê 40% khách hàng là sinh viên mới tốt nghiệp đại học, tới để chụp ảnh làm bằng chứng thực tập gửi cho giảng viên, 60% còn lại là người làm việc tự do, tuổi trung bình khoảng 30, trẻ nhất là 25. Biao Xiang, giám đốc Viện Nhân học xã hội Max Planck ở Đức, cho rằng trào lưu này là cách người trẻ thể hiện sự chán nản với các chuẩn mực xã hội và công việc văn phòng thông thường.

“Mọi người cảm thấy đoàn kết khi đến công ty “giả vờ làm việc” cùng những người khác, và hiểu thêm về hoàn cảnh của nhau. Bản thân từ “giả vờ” đã hàm ý một sự lựa chọn chủ động không gượng ép của họ rồi” – Xiang nói với BBC.

Char Siu, 29 tuổi, ở Quảng Châu, đã “giả vờ đi làm” suốt hai năm mà không cho bố mẹ biết sau khi kiệt sức vì áp lực KPI, văn hóa nhậu nhẹt và sự thao túng nơi công sở tại các công ty Internet lớn. Cô dùng biệt danh “Thịt heo nướng” trên mạng để tự giễu bản thân vì ở Quảng Đông, cha mẹ thường nói với con cái kém may mắn rằng: “Thà sinh ra một miếng thịt heo nướng còn hơn là con”.

Để duy trì “vỏ bọc công việc”, Siu bịa là đang làm tại một doanh nghiệp nhà nước lớn với giờ làm linh hoạt, thậm chí mua bánh ú để giả làm “quà công ty tặng” dịp Tết Đoan ngọ, và kể chuyện “đi công tác” cho bố mẹ yên tâm. Trước đây, sếp, công ty và dư luận luôn làm Siu bận tâm; còn sau hai năm giả vờ, cô chỉ sống, ăn uống, mơ mộng và thấy bình yên hơn bao giờ hết.

Gom xấu hổ và thất vọng để xây gì đó mới

Thực chất, văn phòng “giả vờ làm việc” không chỉ là nơi che giấu thất nghiệp, đối với nhiều người đã có việc làm, nó đang trở thành một không gian chuyển đổi.

Chu Tuấn, ông chủ công ty “Giả vờ làm việc” ở ngoại ô phía đông Bắc Kinh, kể với tạp chí The Dial, khách hàng của ông chủ yếu là người có nhiều năm kinh nghiệm, tuổi trung niên, thường đã có con và gánh trên vai nghĩa vụ tài chính lớn. Họ không đến để lười biếng mà để làm mới bản thân, tạo dựng một doanh nghiệp mới, hoặc kiếm tiền từ việc thất nghiệp tạm thời.

Tần Yên, một bà mẹ hai con, từng là quản trị viên tại một công ty tài chính và là khách quen của Chu Tuấn. Khi một bé được năm tuổi, cô muốn quay lại làm việc nhưng không mặn mà với văn phòng truyền thống, mà muốn tự mình xây dựng cái gì đó riêng.

Tại văn phòng giả lập, Tần Yên đã phát triển một dòng sản phẩm NSFW (Not Safe For Work – không phù hợp cho công sở) gồm đồ chơi, dụng cụ nhập vai, truyện và nhạc bán theo gói với nhiều mức giá tùy độ phức tạp.

Dù dự án chưa có lãi, những “đồng nghiệp” bất đắc dĩ tại đây lại sẵn sàng lắng nghe cô thuyết trình ý tưởng và góp ý. Tần Yên chấp nhận bị nói là “giả vờ làm việc”, coi mô hình này là tấm lưới an toàn về mặt tâm lý, giúp cô cảm thấy bớt cô đơn hơn.

Với Lưu Quan Kiệt, chủ một công ty tương tự ở Thâm Quyến, thì khách hàng có vẻ đa dạng hơn gồm sinh viên chưa đi làm muốn tập quen nhịp làm việc, người tìm việc đến để gặp gỡ và xây dựng sự tự tin, người có việc làm nhưng thiếu không gian văn phòng cố định, và người làm thêm cần không gian văn phòng giá rẻ.

Đối với những người làm việc tự do, không gian này còn mang lại hiệu suất làm việc cao hơn. Tân Kỳ, làm việc trong lĩnh vực tài chính, đã thuê chỗ ngồi tại đây. Cô cho hay trước đây làm việc tại nhà thường xuyên bị sao nhãng.

Giờ đây, cô chỉ cần làm việc 2-3 ngày tại văn phòng thuê để giải quyết tất cả công việc của một tuần. Nhờ đó, thay vì chỉ làm cho hai công ty, cô hiện có thể nhận việc của 10 công ty cùng lúc. Tân Kỳ đánh giá đây là môi trường làm việc lý tưởng vì đồng nghiệp thật sự là đối tác, chứ không phải để “cùng khẩu nghiệp” chốn công sở.

Giáo sư Thôi Liên (ĐH Tài chính và Kinh tế Thượng Hải) nhận định trên tờ Business Weekly phiên bản Đài Loan: “văn phòng giả” không chỉ cho thuê chỗ ngồi mà còn đáp ứng nhu cầu được tôn trọng, kết nối và hỗ trợ tâm lý, giúp người đang gặp khó khăn nghề nghiệp chia sẻ kỹ năng, tìm cơ hội mới.

Mặc dù mô hình này mang lại sự an ủi và cơ hội, các chuyên gia cũng cảnh báo về mặt trái của nó. Trương Ung, giáo sư tại Đại học Khoa học và Công nghệ Vũ Hán, đánh giá đây là một “hiện tượng riêng lẻ” ở Trung Quốc, phản ánh thực trạng xã hội đặt quá nhiều áp lực thành công.

Lời khuyên của vị giáo sư là nên bắt đầu bằng cách nhìn nhận trung thực hoàn cảnh, tìm hiểu kỹ thị trường lao động, cởi mở chia sẻ với gia đình và xây dựng một tư duy lành mạnh hơn về con đường nghề nghiệp, tìm kiếm sự tư vấn chuyên nghiệp.

Trong khi đó, tờ China Youth Daily trích dẫn lời cảnh báo từ các luật sư đối với các công ty giả vờ làm việc “nên cân nhắc việc quản lý nhân sự hiệu quả để tránh hoạt động bất hợp pháp hoặc bị lợi dụng cho các hoạt động bất hợp pháp”.

Trào lưu “giả vờ làm việc” là một triệu chứng rõ rệt cho sự bất an sâu sắc trong xã hội Trung Quốc. The Dial nhận định “quan sát bên ngoài, nền kinh tế Trung Quốc vẫn có vẻ vững chắc nhưng bên trong thì nhiều người lao động trí óc đang ở độ tuổi trung niên, tâm trạng lại rất lo lắng và thất vọng”.

Khủng hoảng việc làm đặc biệt nghiêm trọng đối với giới trẻ và lao động trung niên. Năm 2023, giáo sư kinh tế Trương Đan Đan (Đại học Bắc Kinh) ước tính tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên có thể lên tới 46,5%.

Báo Wall Street Journal đưa tin hồi tháng 5 rằng “cách đây không lâu, bất kỳ ai cũng có thể xem xét kỹ lưỡng hàng loạt dữ liệu chính thức từ Trung Quốc, rồi chúng bắt đầu biến mất”. Sau đó, chính phủ đã thay đổi phương pháp tính toán để loại trừ sinh viên ra khỏi số liệu thống kê. Mặc dù vậy, tỉ lệ thất nghiệp của nhóm tuổi từ 16 đến 24 (không tính sinh viên đang đi học) vẫn ở mức 14,9% vào tháng 5, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái.

Diễn đàn Công nhân Trung Quốc gọi đây là “thời kỳ băng hà việc làm”. Năm nay có 12,22 triệu người tốt nghiệp đã tham gia vào thị trường cạnh tranh việc làm, khiến cụm từ “tốt nghiệp và thất nghiệp” gần như trở thành chuyện thường tình.

Thất nghiệp bị gắn mác “bất tài” hoặc “lười biếng”, người trẻ vì vậy không chỉ chịu khó khăn tài chính mà còn phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý khác nhau và xu hướng tự chối bỏ bản thân.

Giáo sư Trương Hữu Lang (ĐH Nhân dân Trung Quốc) cho rằng “giả vờ làm việc” phản ánh các vấn đề xã hội như áp lực nghề nghiệp và bản sắc cá nhân, đồng thời cho thấy xu hướng doanh nghiệp nhỏ linh hoạt tận dụng không gian nhàn rỗi về cơ bản là một mô hình phái sinh của nền kinh tế chia sẻ văn phòng.

Ver2Solution theo Tuổi trẻ

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tâm Lý Học NTD

Gen Z và xu hướng Quiet Luxury: Khi sự giàu có là không phô trương

Published

on

Không logo lớn, không khoe mẽ trên mạng xã hội, Quiet luxury đang trở thành lựa chọn của giới giàu và đặc biệt là thế hệ Gen Z trong kỷ nguyên công nghệ.

Trong một thế giới nơi mạng xã hội khuyến khích con người khoe mọi thứ, từ bữa ăn, chuyến du lịch cho tới tài sản cá nhân, thì sự im lặng lại bất ngờ trở thành một dạng “xa xỉ” mới. Quiet luxury, hay xa xỉ thầm lặng, không còn là khái niệm chỉ gắn với giới thượng lưu truyền thống, mà đang dần trở thành một xu hướng được Gen Z đón nhận mạnh mẽ, đặc biệt ở các đô thị lớn và cộng đồng sáng tạo.

Khác với hình ảnh xa xỉ phô trương từng thống trị nhiều năm trước, Quiet luxury không tìm cách gây chú ý. Nó thể hiện qua chất liệu tốt, thiết kế bền bỉ, màu sắc trung tính và những chi tiết tinh tế chỉ người hiểu mới nhận ra. Một chiếc áo len cashmere trơn, một chiếc áo khoác dáng cổ điển hay một chiếc túi da không logo có thể trông “bình thường” trên ảnh mạng xã hội, nhưng lại mang giá trị rất khác trong đời sống thật.

Điều đáng chú ý là chính Gen Z, thế hệ lớn lên cùng mạng xã hội, lại là nhóm bắt đầu quay lưng với việc khoe khoang quá mức. Sau giai đoạn “flex culture” bùng nổ, nhiều người trẻ nhận ra áp lực so sánh, rủi ro về riêng tư và sự mệt mỏi khi phải liên tục chứng minh bản thân. Quiet luxury vì thế trở thành lựa chọn ngược dòng: ít nói, ít phô trương, nhưng sâu sắc và có chủ đích.

Tinh thần này cũng phản chiếu rõ trong cách Gen Z tiếp cận công nghệ. Những sản phẩm được yêu thích nhất hiện nay thường không quá hào nhoáng về hình thức, mà tập trung vào trải nghiệm, độ ổn định và tính riêng tư. Quyền lực không còn nằm ở việc “nhìn là biết đắt”, mà ở việc dùng lâu, dùng tốt và không bị phụ thuộc vào ánh nhìn của người khác.

Hình ảnh “thẻ đen” ngân hàng là một ẩn dụ thú vị cho Quiet luxury. Không nhiều người từng thấy, càng ít người biết điều kiện để sở hữu, nhưng nó đại diện cho một tầng quyền lực không cần quảng cáo. Chủ nhân của nó hiếm khi rút ra để gây chú ý, nhưng khi cần, những đặc quyền phía sau là điều không phải ai cũng chạm tới. Với Gen Z có định hướng tài chính rõ ràng, đây là kiểu quyền lực hấp dẫn hơn việc khoe giàu tức thì.

Trong bối cảnh dữ liệu cá nhân ngày càng có giá trị, việc sống kín đáo cũng trở thành một chiến lược. Nhiều người trẻ hạn chế chia sẻ vị trí, không công khai tài sản, không biến đời sống cá nhân thành nội dung. Giống như cách họ chọn quần áo không logo, họ cũng chọn một cuộc sống “ít ồn” để giữ an toàn và tự do cho chính mình.

Quiet luxury còn phản ánh sự thay đổi trong tư duy tiêu dùng của Gen Z. Thay vì mua nhiều theo trào lưu, họ mua ít hơn, chọn kỹ hơn, ưu tiên độ bền và giá trị lâu dài. Điều này rất giống với cách các công ty công nghệ lớn đầu tư vào nền tảng cốt lõi thay vì chạy theo xu hướng ngắn hạn. Sự ổn định và khả năng đi đường dài mới là thứ đáng giá

Sau cùng, Quiet luxury không phải là lời khẳng định “tôi giàu”, mà là một tuyên ngôn sống: không cần phải chứng minh quá nhiều với thế giới. Khi đã hiểu mình là ai và cần gì, con người ta có xu hướng im lặng hơn, chọn lọc hơn và vững vàng hơn.

Và có lẽ, trong kỷ nguyên số đầy tiếng ồn, sự im lặng có chủ đích chính là biểu hiện rõ ràng nhất của quyền lực, đặc biệt với thế hệ Gen Z.

Ver2Solution theo Đời Sống Pháp Luật

Continue Reading

Tâm Lý Học NTD

Gen Z Việt Nam và cuộc đua “giàu nhanh”: áp lực tài chính, so sánh xã hội và cách họ tự cứu mình

Published

on

Thế hệ Gen Z Việt Nam đang sống giữa kỳ vọng thành công sớm, chi phí sinh hoạt leo thang và mạng xã hội khuếch đại hình mẫu giàu có. Áp lực “phải giàu nhanh” không chỉ là câu chuyện tâm lý mà còn là bài toán tài chính, nghề nghiệp và cách mỗi người chọn đối phó.

Nếu Millennials lớn lên cùng lời khuyên “ổn định rồi tính”, Gen Z lại trưởng thành trong thời kỳ kinh tế biến động nhanh, giá tài sản tăng mạnh và mạng xã hội đẩy chuẩn mực thành công lên cao hơn bao giờ hết. Với Gen Z, thành công không chỉ là có việc làm tốt mà còn phải tích lũy tài sản sớm, phát triển nhiều nguồn thu nhập và thể hiện được phong cách sống đáng mơ ước. Trong bối cảnh này, áp lực “phải giàu nhanh” trở thành cảm nhận chung, vừa đến từ thực tế vừa đến từ so sánh xã hội liên tục.

Áp lực tài chính lẫn kỳ vọng xã hội đang siết Gen Z

Áp lực giàu nhanh trước hết xuất phát từ thực tế kinh tế nhiều thách thức. Giá nhà, xe, dịch vụ và tiêu dùng đều tăng nhanh hơn tốc độ thu nhập trung bình của lao động trẻ. Các khảo sát gần đây tại thị trường Việt Nam cho thấy Gen Z nằm trong nhóm kém an toàn về tài chính, với tỷ lệ cảm nhận bất ổn cao hơn các thế hệ trước. Nhiều người trẻ thú nhận họ cảm thấy khó lập kế hoạch dài hạn khi chi phí sinh hoạt đã chiếm phần lớn thu nhập.

Một sinh viên mới ra trường chia sẻ: “Em không đặt mục tiêu mua nhà ngay, nhưng mọi người xung quanh đều nói nếu không cố thì sau này càng khó. Tự nhiên em thấy bị chậm hơn so với bạn bè, dù mới đi làm được một năm.” Câu chuyện này không hiếm, khi kỳ vọng tự lập tài chính trước tuổi 30 xuất hiện ngày càng phổ biến, tạo ra một chuẩn mực mới mà thế hệ trước không phải đối mặt.

Bên cạnh yếu tố kinh tế, mạng xã hội là chất xúc tác mạnh mẽ. Hình ảnh người trẻ thành công sớm, sở hữu lifestyle cao cấp, du lịch nhiều và có thu nhập từ nhiều nguồn đã trở thành thước đo mặc định trên TikTok và Instagram. Ở chiều ngược lại, những người chưa đạt được thành tựu có xu hướng tự so sánh, dẫn đến FOMO và cảm giác “phải làm nhiều hơn nữa để không bị bỏ lại phía sau”. Một kỹ sư Gen Z bộc bạch: “Không ai bắt em giàu nhanh cả, nhưng nhìn người ta thành công thì em cảm giác mình đang lãng phí thời gian.”

Gen Z Việt Nam và cuộc đua "giàu nhanh": áp lực tài chính, so sánh xã hội và cách họ tự cứu mình - Ảnh 2.

Tuy nhiên, áp lực giàu nhanh không chỉ là ảo tưởng. Gen Z cũng là thế hệ có tiếp cận tài chính và đầu tư sớm hơn, thể hiện qua việc tiết kiệm, đầu tư, làm thêm và khai thác nguồn thu nhập mới từ công nghệ, thương mại điện tử hay sáng tạo nội dung. Đây vừa là phản ứng với bối cảnh kinh tế, vừa là cách họ tìm hướng đi dài hơi. Điều này cho thấy áp lực không chỉ đến từ việc muốn hơn người khác, mà còn đến từ nỗi lo không đủ để sống tốt trong tương lai.

Từ chật vật đến chủ động: Gen Z đang tự định nghĩa lại con đường làm giàu

Dù phải đối mặt với nhiều bất lợi, thế hệ Gen Z không hoàn toàn bị động. Nhiều khảo sát cho thấy họ bắt đầu tiết kiệm từ rất sớm, lên kế hoạch tài chính cá nhân và tham gia đầu tư phổ thông như gửi tiết kiệm, chứng khoán, tài sản số hay khởi nghiệp nhỏ. Với Gen Z, tự do tài chính không chỉ là con số mà còn là khả năng lựa chọn và kiểm soát cuộc sống.

Một bạn nữ 24 tuổi làm sáng tạo nội dung cho biết: “Em không muốn giàu nhanh theo kiểu may rủi. Em muốn có tiền đủ để không phụ thuộc ai, có thể nghỉ vài tháng để học cái mới mà không lo nợ.” Đây là góc nhìn cho thấy sự dịch chuyển giá trị, khi mục tiêu không chỉ là giàu mà là tự do và linh hoạt.

Song song với sự chủ động, Gen Z cũng đối mặt với những giới hạn riêng. Nhiều người chưa có kiến thức tài chính đủ vững nhưng vẫn tham gia thị trường đầu tư vì sợ bỏ lỡ cơ hội. Một số bị cuốn vào giao dịch nhanh, đầu tư nóng và kỳ vọng lợi nhuận cao trong thời gian ngắn. Khi thất bại, họ lại rơi vào vòng lặp so sánh và mất tự tin. Áp lực giàu nhanh vì thế trở thành con dao hai lưỡi, vừa thúc đẩy học hỏi vừa dễ tạo ra sự bào mòn tâm lý.

Gen Z Việt Nam và cuộc đua "giàu nhanh": áp lực tài chính, so sánh xã hội và cách họ tự cứu mình - Ảnh 3.

Về lâu dài, cách Gen Z đối phó với áp lực này sẽ góp phần định hình lại quan niệm về giàu có. Thay vì mô hình truyền thống “đi làm – thăng chức – mua nhà”, nhiều người chọn sự đa dạng trong nguồn thu, ưu tiên cân bằng và trải nghiệm, chấp nhận thay đổi nghề nghiệp và học kỹ năng mới. Con đường giàu có vì vậy không còn là một lộ trình tuyến tính mà linh hoạt hơn, rủi ro hơn nhưng cũng mở rộng hơn.

Áp lực phải giàu nhanh phản ánh sự giao thoa giữa kỳ vọng xã hội, thực tế kinh tế và tâm lý thế hệ trong thời kỳ chuyển đổi. Với Gen Z Việt Nam, đó vừa là thách thức vừa là động lực. Họ có thể chưa sở hữu nhiều tài sản, nhưng lại sở hữu sự nhạy bén, tốc độ thích ứng và tư duy tài chính sớm hơn. Cách họ lựa chọn cân bằng giữa tham vọng và khả năng sẽ định nghĩa lại tiêu chuẩn thành công trong thập kỷ tới.

Ver2Solution theo Đời Sống Pháp Luật

Continue Reading

Tâm Lý Học NTD

1,4 triệu thanh niên ba không

Published

on

Ba tháng cuối năm 2025, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên trong tình trạng ba không: không việc làm, không học tập, không tham gia đào tạo nghề, chiếm 10% tổng số thanh niên.

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .