Với một bộ phận Gen Z và thế hệ Millennials Trung Quốc, khởi nghiệp không hẳn bắt đầu từ một ý tưởng kinh doanh lớn. Một số người lựa chọn con đường này sau khi bị sa thải khỏi các công ty công nghệ lớn; những người khác muốn thoát khỏi môi trường làm việc có cường độ cao.
Tâm Lý Học NTD
Trả tiền thuê chỗ giả văn phòng làm việc
Nếu không có việc làm, bạn có sẵn lòng trả tiền thuê một chỗ làm để giả vờ đi làm không? Trả tiền thuê chỗ giả văn phòng làm việc.
Nếu hoàn toàn có thể làm việc tại nhà, bạn có muốn thuê một chỗ làm chỉ để trải nghiệm việc ra khỏi nhà lúc 9h sáng và quay về lúc 5h chiều không? Cứ tưởng câu trả lời đều là không – không có việc thì tìm việc, và đã được ở nhà thoải mái ai lại muốn vất vả đi về? Nhưng ở Trung Quốc không thế.
Trong tiểu phẩm hài phát sóng hồi tháng 12-2024, một công ty tên “Giả vờ làm việc” có các nhân viên trả phí để đến văn phòng ngồi chơi, vờ bận rộn. Chuyện có ai ngờ, các video được gắn thẻ “cuộc sống công sở giả tạo” lại trở thành trào lưu lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội Xiaohongshu và Douyin cả năm nay, thu hút hơn 100 triệu lượt xem, theo thống kê của South China Morning Post.
Theo Nhân Dân Nhật Báo, tại một tòa nhà văn phòng ở khu Tĩnh An, Thượng Hải, một không gian làm việc chung mang tên Vidu bất ngờ nổi tiếng khi trở thành nơi tập trung những người trẻ tự bỏ tiền túi để thuê chỗ làm giả, hiện tượng được dân mạng đặt biệt danh là “công ty giả vờ đi làm”.
Họ không có công việc thực sự, nhưng sẵn sàng mua một chiếc bàn tạm thời như một cầu nối để duy trì thói quen và tiếp xúc với xã hội, cho thấy áp lực thất nghiệp và giữ thể diện đang nặng nề đến mức nào.
Trả phí để có cảm giác đang làm việc
Văn phòng cho thuê nơi giả đò làm việc xuất hiện nhiều ở các thành phố như Bắc Kinh, Hàng Châu, Thành Đô, Thượng Hải và Thâm Quyến. Với 30-50 nhân dân tệ (khoảng 4-7 USD) một ngày, người thuê chỗ không phải chấm công, có sẵn bàn làm việc, WiFi, bữa trưa, cà phê và không gian chẳng khác gì một văn phòng thật. Thậm chí phiếu lương, quản lý, bảo hiểm xã hội và chứng chỉ thực tập nếu cần cũng có luôn.
Công ty mở cửa từ 9h sáng tới 5h chiều, ai thích có thể ở lại đến 10-11h đêm. Theo Nhân Dân Nhật Báo, trên một số trang web mua theo nhóm, giá cho một ngày dùng thử chỗ ngồi 8 tiếng tại “công ty làm việc giả” chỉ là 9,9 nhân dân tệ.
Nhu cầu thị trường lớn nhanh đến nỗi một công ty ở Đông Quản bắt đầu quảng cáo trực tuyến vào tháng 4 mà đến tháng 5 đã kín chỗ. Tình trạng trở nên éo le khi ông chủ của công ty này phải “sàng lọc” ứng viên đến thuê chỗ, nghĩa là cơ hội “giả làm việc” cũng cạnh tranh khốc liệt.
Một công ty ở Thâm Quyến quảng cáo văn phòng của mình là “điều tuyệt vời nhất khi làm việc không phải là mức lương, mà là những người giả vờ bận rộn bên cạnh bạn”. Tờ The Online Citizen của Singapore đánh giá rằng tất cả những thứ này giúp một số người thất nghiệp cảm thấy an ủi vì duy trì được thói quen đi làm mỗi ngày, nuôi hy vọng môi trường chuyên nghiệp giả có thể “nhả vía” cơ hội công việc thật.
Những người có đầu óc kinh doanh đã nhanh chóng “chế” thêm nhiều phiên bản văn phòng “giả vờ làm việc” mới lạ. Chẳng hạn một studio dùng livestream cũng được thiết kế lại thành “văn phòng ảo”, một công ty luật tái sử dụng văn phòng bỏ không cho thuê, để luật sư thật ngồi làm việc cùng “nhân viên ảo” đang lướt TikTok hay chơi game giết thời gian.
Hay như một nông trại ở ngoại ô Bắc Kinh chuyển thành nơi mà người ta có thể trả lời email dưới vòm nắng và đào cà rốt vào giờ nghỉ trưa.
Tình nguyện dối lừa đổi lấy bình an tâm hồn
Mô hình “giả vờ làm việc” có thể coi là phao cứu sinh cho những người thất nghiệp. Phi Vũ, 30 tuổi, chủ một công ty mô hình này, chia sẻ rằng thứ anh bán không phải là chỗ ngồi, mà là một chỗ để giữ thể diện, “tránh sự kỳ thị vì thất nghiệp, tránh những ánh nhìn lo lắng, những câu hỏi khó xử của gia đình nếu biết mình vô công rỗi nghề”.
Chuyện này thật ra không quá lạ, bởi xã hội Nhật Bản trong đợt suy thoái kinh tế 1989 cùng nhiều áp lực cũng tạo ra một số ông chồng thất nghiệp. Sáng sáng họ mặc sơ mi đeo cà vạt xách cặp rời nhà rồi đến thư viện hoặc công viên ngồi suy nghĩ thẫn thờ và ngủ, chiều tới giờ tan tầm thì hòa vào dòng người về nhà. Nhìn mệt mỏi chẳng khác nào đi làm thật sự. Nhờ đó tránh nỗi xấu hổ với gia đình.
Khi công ty phá sản, Gia Vĩ, cựu nhân viên thương mại điện tử đến từ Hàng Châu, đã dành nhiều ngày ở quán cà phê để nộp đơn xin việc. Anh sẽ rời quán cà phê vào giờ tan làm thường lệ, thậm chí thỉnh thoảng ở lại đến khuya để bắt chước làm thêm giờ. Thất nghiệp rất căng thẳng, nhưng Gia Vĩ “không muốn truyền sự tiêu cực đó cho gia đình mình”, anh kể với hãng truyền thông Yunxi Technology (Trung Quốc).
Tương tự, Chen, 29 tuổi, cựu công nhân sản xuất chất bán dẫn ở tỉnh Hồ Bắc, đã chọn cách không nói với bạn gái mình sau khi bị sa thải vào năm ngoái. Với hai tháng tiền trợ cấp thôi việc, Chen dành thời gian ở thư viện để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển công chức cấp tỉnh sắp diễn ra.
Ở nhà dễ bị xao nhãng nên nhiều người chọn đến văn phòng giả để hưởng chút không khí công sở. Ảnh: Xiaohongshu
Phi Vũ thống kê 40% khách hàng là sinh viên mới tốt nghiệp đại học, tới để chụp ảnh làm bằng chứng thực tập gửi cho giảng viên, 60% còn lại là người làm việc tự do, tuổi trung bình khoảng 30, trẻ nhất là 25. Biao Xiang, giám đốc Viện Nhân học xã hội Max Planck ở Đức, cho rằng trào lưu này là cách người trẻ thể hiện sự chán nản với các chuẩn mực xã hội và công việc văn phòng thông thường.
“Mọi người cảm thấy đoàn kết khi đến công ty “giả vờ làm việc” cùng những người khác, và hiểu thêm về hoàn cảnh của nhau. Bản thân từ “giả vờ” đã hàm ý một sự lựa chọn chủ động không gượng ép của họ rồi” – Xiang nói với BBC.
Char Siu, 29 tuổi, ở Quảng Châu, đã “giả vờ đi làm” suốt hai năm mà không cho bố mẹ biết sau khi kiệt sức vì áp lực KPI, văn hóa nhậu nhẹt và sự thao túng nơi công sở tại các công ty Internet lớn. Cô dùng biệt danh “Thịt heo nướng” trên mạng để tự giễu bản thân vì ở Quảng Đông, cha mẹ thường nói với con cái kém may mắn rằng: “Thà sinh ra một miếng thịt heo nướng còn hơn là con”.
Để duy trì “vỏ bọc công việc”, Siu bịa là đang làm tại một doanh nghiệp nhà nước lớn với giờ làm linh hoạt, thậm chí mua bánh ú để giả làm “quà công ty tặng” dịp Tết Đoan ngọ, và kể chuyện “đi công tác” cho bố mẹ yên tâm. Trước đây, sếp, công ty và dư luận luôn làm Siu bận tâm; còn sau hai năm giả vờ, cô chỉ sống, ăn uống, mơ mộng và thấy bình yên hơn bao giờ hết.
Gom xấu hổ và thất vọng để xây gì đó mới
Thực chất, văn phòng “giả vờ làm việc” không chỉ là nơi che giấu thất nghiệp, đối với nhiều người đã có việc làm, nó đang trở thành một không gian chuyển đổi.
Chu Tuấn, ông chủ công ty “Giả vờ làm việc” ở ngoại ô phía đông Bắc Kinh, kể với tạp chí The Dial, khách hàng của ông chủ yếu là người có nhiều năm kinh nghiệm, tuổi trung niên, thường đã có con và gánh trên vai nghĩa vụ tài chính lớn. Họ không đến để lười biếng mà để làm mới bản thân, tạo dựng một doanh nghiệp mới, hoặc kiếm tiền từ việc thất nghiệp tạm thời.
Tần Yên, một bà mẹ hai con, từng là quản trị viên tại một công ty tài chính và là khách quen của Chu Tuấn. Khi một bé được năm tuổi, cô muốn quay lại làm việc nhưng không mặn mà với văn phòng truyền thống, mà muốn tự mình xây dựng cái gì đó riêng.
Tại văn phòng giả lập, Tần Yên đã phát triển một dòng sản phẩm NSFW (Not Safe For Work – không phù hợp cho công sở) gồm đồ chơi, dụng cụ nhập vai, truyện và nhạc bán theo gói với nhiều mức giá tùy độ phức tạp.
Dù dự án chưa có lãi, những “đồng nghiệp” bất đắc dĩ tại đây lại sẵn sàng lắng nghe cô thuyết trình ý tưởng và góp ý. Tần Yên chấp nhận bị nói là “giả vờ làm việc”, coi mô hình này là tấm lưới an toàn về mặt tâm lý, giúp cô cảm thấy bớt cô đơn hơn.
Với Lưu Quan Kiệt, chủ một công ty tương tự ở Thâm Quyến, thì khách hàng có vẻ đa dạng hơn gồm sinh viên chưa đi làm muốn tập quen nhịp làm việc, người tìm việc đến để gặp gỡ và xây dựng sự tự tin, người có việc làm nhưng thiếu không gian văn phòng cố định, và người làm thêm cần không gian văn phòng giá rẻ.
Đối với những người làm việc tự do, không gian này còn mang lại hiệu suất làm việc cao hơn. Tân Kỳ, làm việc trong lĩnh vực tài chính, đã thuê chỗ ngồi tại đây. Cô cho hay trước đây làm việc tại nhà thường xuyên bị sao nhãng.
Giờ đây, cô chỉ cần làm việc 2-3 ngày tại văn phòng thuê để giải quyết tất cả công việc của một tuần. Nhờ đó, thay vì chỉ làm cho hai công ty, cô hiện có thể nhận việc của 10 công ty cùng lúc. Tân Kỳ đánh giá đây là môi trường làm việc lý tưởng vì đồng nghiệp thật sự là đối tác, chứ không phải để “cùng khẩu nghiệp” chốn công sở.
Giáo sư Thôi Liên (ĐH Tài chính và Kinh tế Thượng Hải) nhận định trên tờ Business Weekly phiên bản Đài Loan: “văn phòng giả” không chỉ cho thuê chỗ ngồi mà còn đáp ứng nhu cầu được tôn trọng, kết nối và hỗ trợ tâm lý, giúp người đang gặp khó khăn nghề nghiệp chia sẻ kỹ năng, tìm cơ hội mới.
Mặc dù mô hình này mang lại sự an ủi và cơ hội, các chuyên gia cũng cảnh báo về mặt trái của nó. Trương Ung, giáo sư tại Đại học Khoa học và Công nghệ Vũ Hán, đánh giá đây là một “hiện tượng riêng lẻ” ở Trung Quốc, phản ánh thực trạng xã hội đặt quá nhiều áp lực thành công.
Lời khuyên của vị giáo sư là nên bắt đầu bằng cách nhìn nhận trung thực hoàn cảnh, tìm hiểu kỹ thị trường lao động, cởi mở chia sẻ với gia đình và xây dựng một tư duy lành mạnh hơn về con đường nghề nghiệp, tìm kiếm sự tư vấn chuyên nghiệp.
Trong khi đó, tờ China Youth Daily trích dẫn lời cảnh báo từ các luật sư đối với các công ty giả vờ làm việc “nên cân nhắc việc quản lý nhân sự hiệu quả để tránh hoạt động bất hợp pháp hoặc bị lợi dụng cho các hoạt động bất hợp pháp”.
Trào lưu “giả vờ làm việc” là một triệu chứng rõ rệt cho sự bất an sâu sắc trong xã hội Trung Quốc. The Dial nhận định “quan sát bên ngoài, nền kinh tế Trung Quốc vẫn có vẻ vững chắc nhưng bên trong thì nhiều người lao động trí óc đang ở độ tuổi trung niên, tâm trạng lại rất lo lắng và thất vọng”.
Khủng hoảng việc làm đặc biệt nghiêm trọng đối với giới trẻ và lao động trung niên. Năm 2023, giáo sư kinh tế Trương Đan Đan (Đại học Bắc Kinh) ước tính tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên có thể lên tới 46,5%.
Báo Wall Street Journal đưa tin hồi tháng 5 rằng “cách đây không lâu, bất kỳ ai cũng có thể xem xét kỹ lưỡng hàng loạt dữ liệu chính thức từ Trung Quốc, rồi chúng bắt đầu biến mất”. Sau đó, chính phủ đã thay đổi phương pháp tính toán để loại trừ sinh viên ra khỏi số liệu thống kê. Mặc dù vậy, tỉ lệ thất nghiệp của nhóm tuổi từ 16 đến 24 (không tính sinh viên đang đi học) vẫn ở mức 14,9% vào tháng 5, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái.
Diễn đàn Công nhân Trung Quốc gọi đây là “thời kỳ băng hà việc làm”. Năm nay có 12,22 triệu người tốt nghiệp đã tham gia vào thị trường cạnh tranh việc làm, khiến cụm từ “tốt nghiệp và thất nghiệp” gần như trở thành chuyện thường tình.
Thất nghiệp bị gắn mác “bất tài” hoặc “lười biếng”, người trẻ vì vậy không chỉ chịu khó khăn tài chính mà còn phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý khác nhau và xu hướng tự chối bỏ bản thân.
Giáo sư Trương Hữu Lang (ĐH Nhân dân Trung Quốc) cho rằng “giả vờ làm việc” phản ánh các vấn đề xã hội như áp lực nghề nghiệp và bản sắc cá nhân, đồng thời cho thấy xu hướng doanh nghiệp nhỏ linh hoạt tận dụng không gian nhàn rỗi về cơ bản là một mô hình phái sinh của nền kinh tế chia sẻ văn phòng.
Ver2Solution theo Tuổi trẻ
Khởi Nghiệp
Giới trẻ Trung Quốc lập công ty một người để tránh áp lực thất nghiệp
Thay vì tìm kiếm một công việc mới sau khi mất việc hoặc rời bỏ môi trường doanh nghiệp áp lực cao, ngày càng nhiều người trẻ Trung Quốc lựa chọn “lập công ty một người”…
Theo Wall Street Journal, Wu Songyun, 35 tuổi, từng làm trong lĩnh vực thương mại quốc tế tại Thành Đô. Áp lực công việc và thời gian làm việc kéo dài khiến cô thường xuyên mất ngủ. Năm 2024, Wu nghỉ việc và thành lập TideFlow, một ứng dụng theo dõi giấc ngủ, cung cấp các bài tập thiền và gợi ý cải thiện chất lượng nghỉ ngơi.
“Áp lực công việc quá lớn. Bây giờ tôi thấy tốt hơn”, Wu nói.
7 TRIỆU DOANH NGHIỆP MỘT NGƯỜI MỚI ĐƯỢC THÀNH LẬP
Nhưng TideFlow chưa đạt được kết quả như kỳ vọng. Sau khi ra mắt trong một thị trường cạnh tranh gay gắt tại Trung Quốc, ứng dụng mới có khoảng 1.000 người dùng, trong đó khoảng 35 người trả phí. Công ty vẫn thua lỗ hàng tháng.
Wu là một trong số ngày càng nhiều người Trung Quốc lựa chọn thành lập doanh nghiệp chỉ với một người. AI được sử dụng để hỗ trợ nhiều công việc trước đây thường cần cả một đội ngũ, từ lập trình, chăm sóc khách hàng đến tiếp thị sản phẩm.
Theo truyền thông Trung Quốc, hơn 7 triệu doanh nghiệp một người mới được thành lập trong năm 2025, tăng khoảng 42% so với năm 2024. Con số này bao gồm nhiều loại hình kinh doanh khác nhau, không chỉ các startup AI.
Sự phát triển của mô hình này diễn ra trong bối cảnh thị trường việc làm của người trẻ Trung Quốc gặp nhiều sức ép. Chính quyền địa phương tại một số trung tâm công nghệ đang đưa ra các chính sách hỗ trợ như nhà ở, không gian văn phòng và phiếu sử dụng năng lực tính toán AI với chi phí thấp hơn. Hàng trăm vườn ươm dành cho các doanh nghiệp siêu nhỏ cũng xuất hiện tại những trung tâm công nghệ như Hàng Châu và Thâm Quyến.
“AI đang tạo ra tất cả những lo ngại về việc thay thế việc làm”, Guo Shan, đối tác tại công ty tư vấn Hutong Research ở Thượng Hải, nhận xét. Theo bà, các công ty một người có thể trở thành “một cơ hội việc làm”.
Với chính quyền Trung Quốc, xu hướng này đồng thời gắn với hai mục tiêu: thúc đẩy ứng dụng AI trong nền kinh tế và tạo thêm cơ hội việc làm cho lực lượng lao động trẻ.
TỰ KINH DOANH ĐỂ THOÁT KHỎI ÁP LỰC VIỆC LÀM
Làn sóng khởi nghiệp một người không chỉ xuất hiện tại Trung Quốc. Tại Mỹ, xu hướng này cũng đang phát triển khi AI giúp một cá nhân có thể đảm nhiệm nhiều công việc vốn cần cả nhóm nhân sự. CEO OpenAI Sam Altman từng dự đoán AI sẽ tạo ra công ty một người đầu tiên có giá trị 1 tỷ USD.
Tại Trung Quốc, mô hình này có thêm một số điều kiện thuận lợi. Chi phí vận hành thấp, các mô hình AI mã nguồn mở do doanh nghiệp Trung Quốc phát triển ngày càng phổ biến, trong khi mạng lưới sản xuất và cung ứng dày đặc giúp các doanh nghiệp nhỏ dễ tiếp cận nguồn lực sản xuất.

Nhưng với một bộ phận Gen Z và thế hệ Millennials Trung Quốc, khởi nghiệp không hẳn bắt đầu từ một ý tưởng kinh doanh lớn. Một số người lựa chọn con đường này sau khi bị sa thải khỏi các công ty công nghệ lớn; những người khác muốn thoát khỏi môi trường làm việc có cường độ cao.
Tại Honghub, một cộng đồng dành cho các doanh nhân một người ở Hàng Châu, nhu cầu về sự tự chủ thể hiện khá rõ. Cộng đồng này do nhà đầu tư Johnny Zou thành lập vào tháng 9/2025, hiện có hơn 50 công ty một người. Nhiều doanh nghiệp được nhận khoản vốn khởi nghiệp lên tới 50.000 USD từ vườn ươm.
Theo Zou, khoảng một phần ba số người sáng lập từng khởi nghiệp trước đó, trong khi một phần ba từng làm việc tại các công ty công nghệ lớn.
Hàng Châu là địa điểm thuận lợi cho mô hình này khi vừa là trung tâm thương mại điện tử vừa là một trong những điểm nóng AI của Trung Quốc. Alibaba và DeepSeek đều đặt hoạt động tại khu vực này.
Chính quyền địa phương cũng đang tìm cách thu hút các doanh nhân một người. Tháng 3/2026, quận Thượng Thành, nơi Honghub đặt trụ sở, công bố kế hoạch thu hút 1.000 người kinh doanh một người trong năm nay. Quận dự kiến dành hơn 200.000 feet vuông diện tích văn phòng và thành lập quỹ gần 150 triệu USD cho các dự án.
Tuy nhiên, hỗ trợ về mặt bằng hay vốn không đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp này có thể nhanh chóng tạo ra doanh thu. Theo khảo sát của Honghub với 1.500 công ty một người, hơn một nửa có doanh thu dưới 1.000 USD mỗi tháng.
Bob Chen, nhà đầu tư tại quỹ đầu tư mạo hiểm BVF ở Thượng Hải, cho biết ông chưa đầu tư vào các công ty một người. “Rất khó để thực sự có được đơn hàng và doanh thu. Phần lớn đang làm những thứ người khác đã làm. Họ không có kế hoạch dài hạn”, ông nói.
AI GIÚP GIẢM CHI PHÍ, NHƯNG CHƯA TẠO MÔ HÌNH KINH DOANH BỀN VỮNG
Haoyu Liu, 29 tuổi, từng là kỹ sư phần mềm tại một công ty thương mại điện tử ở New York. Khi chứng kiến tốc độ tự động hóa và các đợt cắt giảm nhân sự trong ngành công nghệ, Liu cho rằng cách để thích ứng là trở thành ông chủ của chính mình.
Năm ngoái, anh trở về Trung Quốc, nơi mình sinh ra, để phát triển một ứng dụng về chiêm tinh. Liu tự vận hành toàn bộ doanh nghiệp, sử dụng AI để thiết kế ứng dụng, xử lý công việc hành chính và viết nội dung tiếp thị.
“Tôi đang đón nhận làn sóng công nghệ này thay vì chống lại nó”, Liu nói.
Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau, khi chưa tìm được mô hình kiếm tiền từ ứng dụng chiêm tinh, Liu chuyển hướng sang phát triển một ứng dụng trò chơi AI. Sản phẩm có tên Hunger Agents hiện đang được xây dựng nguyên mẫu.
Việc thay đổi mô hình kinh doanh là khá phổ biến ở các công ty một người. Một số doanh nghiệp sau khi đạt được thành công sẽ tuyển thêm nhân sự hoặc được một công ty lớn hơn mua lại. Những người khác tiếp tục duy trì quy mô nhỏ nếu có thể tạo đủ thu nhập để tự trang trải.
Với nhóm này, mục tiêu không nhất thiết là xây dựng một startup trị giá hàng tỷ USD. Họ tìm kiếm sự tự chủ và một mô hình kinh doanh đủ để duy trì cuộc sống.
“Chúng tôi thích sự tự do mà khởi nghiệp mang lại. Bạn có thể nghỉ ngơi bất cứ khi nào muốn”, Liu nói.
AI đang làm giảm đáng kể rào cản gia nhập đối với những người muốn tự xây dựng sản phẩm. Theo khảo sát của Honghub, khoảng ba phần tư những người sáng lập công ty một người không có nền tảng kỹ thuật.
Arvin Chen, 25 tuổi, một nhà sáng lập tại Honghub đang phát triển thiết bị microphone cho phép người dùng trực tiếp giao tiếp với các AI agent, cho rằng AI đã thay đổi cách một startup được xây dựng. Anh sử dụng AI cho nhiều công việc, từ chỉnh sửa video, lập trình phần backend đến sắp xếp các hoạt động cá nhân.
“Những người từng nghĩ đến việc làm một điều gì đó trong quá khứ thì giờ đây có thể ngừng suy nghĩ và bắt tay vào làm”, Chen nói.
Ver2Solution theo Vneconomy
Tâm Lý Học NTD
Xu hướng người dùng nghiện cày phim AI
Chi tiền triệu ‘cày’ phim ngắn AI. Dặn lòng nghỉ sớm Huyền Trang vẫn nạp thêm 99.000 đồng vào ứng dụng phim ngắn để xem nốt những tập còn lại của một phim AI.
“Nội dung tào lao, tình tiết dễ đoán, diễn viên AI không phải người thật, nhưng rất cuốn, không thể dứt ra được”, Huyền Trang, 36 tuổi ở TP HCM, chia sẻ.
Trang cho biết, trước đó cô thường xem ngắt quãng vài tập ngắn khi vô tình lướt Facebook. Chúng thường kết thúc đúng đoạn cao trào, khiến cô tò mò dù từng xem một số video với kịch bản tương tự. Cô quyết định tải ứng dụng, ban đầu sử dụng miễn phí và chấp nhận xem quảng cáo, nhưng sau đó chi tiền “nạp điểm” để thoải mái theo dõi toàn bộ nội dung.
“Với giá từ 10.000 đồng kèm nhiều khuyến mãi lần đầu, tôi không ngần ngại thanh toán”, Trang nói.
Tương tự, Quốc Huy (Đà Nẵng) ban đầu xem phim AI miễn phí trên YouTube, TikTok hay Facebook Reels dưới dạng reup (đăng lại), nhưng chất lượng rất tệ do hình ảnh bị chỉnh sửa, độ phân giải thấp, các góc bị cắt cúp gây khó chịu. Dần dần, anh chấp nhận trả tiền cho ứng dụng.
“Nhiều lúc, tình tiết khiến tôi không thể cưỡng lại, muốn nạp tiền xem cho hết, có đêm nạp vài lần”, Huy nói. Lúc đăng ký gói, anh “không chút bận tâm” do số tiền nhỏ, nhưng cuối tháng vẫn bất ngờ vì tổng lên đến cả triệu đồng.
Trong các hội nhóm mạng xã hội, nhiều người cũng chia sẻ tưởng chừng chỉ trả vài chục nghìn cho bộ phim yêu thích, nhưng mỗi tháng vẫn tiêu tốn từ vài trăm nghìn đến cả triệu đồng. Ban đầu, họ chủ yếu xem phim do con người đóng, nhưng dần chuyển sang phim AI do nội dung đa dạng, phong phú hơn.
Trên các nền tảng phim ngắn như ReelShort, NetShort, DramaWave, PineDrama, FreeReels…, mỗi phim chia thành 50-100 tập, với mỗi tập vài phút, kết thúc ở điểm cao trào nhằm kích thích người xem “lướt” tiếp. Người dùng nạp các gói từ 10.000 đồng đến hơn triệu đồng để “mở khóa VIP” theo tháng, hoặc nạp điểm xem từng tập.
Quốc Huy cho biết, đa số ứng dụng video ngắn và phim có xuất xứ Trung Quốc, được Việt hóa hoặc lồng tiếng bằng AI. Nội dung trải dài nhiều chủ đề như tình cảm, hành động, viễn tưởng…, thậm chí dùng một kịch bản cho nhiều thể loại phim.
Thống kê của hãng tư vấn Deloitte cho thấy doanh thu toàn cầu từ phim ngắn trong ứng dụng đạt 3,8 tỷ USD năm 2025, dự kiến lên 7,8 tỷ USD năm nay. Dù không tách riêng doanh thu giữa phim do người đóng và phim AI, theo Channel News Asia, trong số 128.000 phim ngắn phát hành tại Trung Quốc trong quý I/2026, 95% được tạo ra bằng AI, tương đương 121.600 phim. Financial Times dẫn dữ liệu tính đến tháng 5 chỉ ra 89 trong 100 phim ngắn đứng đầu trên Douyin là sản phẩm AI.
Theo Báo cáo thị trường ứng dụng của Sensor Tower đầu năm, app phim ngắn đã chen chân vào nhóm ứng dụng giải trí phổ biến nhất, thay vì là sản phẩm ngách. Vào quý IV/2025, ứng dụng phim ngắn (short drama) vượt qua dịch truyền hình (OTT streaming) tại Việt Nam về lượt tải. Còn theo thống kê của nền tảng Adjust, tính cả năm 2025, người Việt chi 11,5 triệu USD (302 tỷ đồng) cho thể loại này.

Dữ liệu của Sensor Tower về lượt tải ứng dụng giải trí, trong đó phim ngắn (màu xanh) tăng dựng đứng, vượt ứng dụng truyền hình trong năm 2025. Ảnh chụp màn hình
TS Lê Duy Tân, nhà đồng sáng lập Phòng thí nghiệm AIoT Lab VN, giảng viên trường Đại học Quốc tế – Đại học Quốc gia TP HCM, đánh giá làn sóng tạo phim AI lan rộng khi công cụ tạo video trở nên phổ biến, thông minh và dễ sử dụng, như Google Veo, Runway hay TikTok Symphony. Bất cứ ai có ý tưởng có thể biến một đoạn mô tả thành cảnh phim.
“AI không chỉ làm tăng số lượng, mà còn tăng tốc độ sản xuất nội dung, tạo nhiều phiên bản trong thời gian ngắn”, TS Tân giải thích. “Khi nguồn cung gần như vô hạn gặp hệ thống đề xuất cũng vận hành bằng AI, một vòng lặp rất mạnh được tạo: AI tạo nội dung – AI phân phối nội dung – AI đo phản ứng của người xem – AI tiếp tục chọn nội dung phù hợp hơn cho người đó”.
Hoàng Minh, người chuyên làm phim AI với kênh YouTube 200.000 lượt theo dõi, cho biết điểm chung của loại nội dung này là không cần hình ảnh quá chân thật hay giống thực tế. “Sức hấp dẫn đến từ những kịch bản tạo sự thỏa mãn”, Minh nói.
“Kịch bản tạo sự thỏa mãn” thường là “bị tai nạn và sở hữu siêu năng lực”, “chủ tịch giả nghèo”, “chàng trai/cô gái nghèo đổi đời sau một đêm” hay “người chịu nhẫn nhục là tỷ phú ẩn danh”. “Hầu hết dễ đoán, nhưng nhiều người muốn xem đến cùng”, Minh cho hay. “Khán giả sẵn sàng chi tiền để xem những thứ khiến họ thấy thỏa mãn”.
TS Tân nhận xét, bên cạnh nội dung, một lý do video AI hấp dẫn liên quan đến thuật toán có khả năng “học” từ rất nhiều tín hiệu hành vi: dừng ở video nào, xem bao lâu, xem lại hay không, thích, bình luận, chia sẻ hoặc bỏ qua gì. Qua thời gian, hệ thống “biết” nội dung nào có khả năng giữ sự chú ý của mỗi người.
BS. CK2 Nguyễn Thanh Sang, Trưởng khoa Tâm lý lâm sàng – Phục hồi chức năng – Y học cổ truyền, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho rằng sức hấp dẫn của video ngắn đến từ việc tạo ra chuỗi phần thưởng nhanh và lặp lại. Dấu hiệu dễ thấy là người dùng thường xuyên xem lâu hơn dự kiến, mở điện thoại vô thức, nhiều lần đặt giới hạn nhưng không thực hiện được, khó chịu hoặc bồn chồn khi không được xem, liên tục thức khuya xem video, trì hoãn học tập hoặc công việc; hay giảm vận động, giao tiếp hoặc những sở thích trước đây.
“Video ngắn thậm chí trở thành công cụ điều hòa cảm xúc gần như duy nhất. Cứ buồn, căng thẳng, cô đơn, tức giận hay chán là cầm điện thoại lên xem”, BS Sang cho hay. “Nhiều dấu hiệu xuất hiện cùng nhau, kéo dài và bắt đầu gây suy giảm chức năng trong cuộc sống”.
Theo BS, những ai đang cảm thấy mình xem video ngắn quá nhiều không nhất thiết phải lập tức “cai hoàn toàn”. Thay vào đó, cần có lộ trình theo từng bước, từ quan sát hành vi thật bằng cách xem số liệu Screen Time trong một tuần để biết mình thực sự dành bao nhiêu thời gian, khung giờ nào, mở video ngắn trong trạng thái nào. Sau đó, tạo thay đổi như giới hạn khung giờ xem, tắt thông báo, đặt thời gian sử dụng ứng dụng, không mang điện thoại lên giường.
Trong khi đó, Huyền Trang cho biết đã đặt giới hạn ngân sách và thời gian, không nạp thêm tiền theo cảm xúc chỉ để mở khóa tập tiếp theo. “Cuối cùng, bản thân video ngắn không phải là ‘kẻ thù’. Điều cần kiểm soát là ở chính chúng ta”, BS Sang khuyến cáo.
Ver2Solution theo Vnexpress
Tâm Lý Học NTD
Nhu cầu của giới trẻ thay đổi, công nghệ chữa lành thành xu hướng
Xu hướng phát triển sản phẩm hướng đến sức khỏe tinh thần, cảm xúc và mang tác dụng chữa lành không còn là hiện tượng cục bộ, mà đã trở thành sự dịch chuyển chiến lược của toàn ngành công nghệ tiêu dùng…
Không còn đo lường thành công bằng tốc độ xử lý hay độ phân giải màn hình, một thế hệ sản phẩm công nghệ mới trên khắp thế giới – từ chiếc nhẫn thông minh đo nhịp tim, chiếc đèn ngủ mô phỏng ánh hoàng hôn, đến chú robot lông xù giúp chữa lành – đang cạnh tranh ở một tiêu chí hoàn toàn khác: ai khiến người dùng cảm thấy được xoa dịu nhiều hơn.
Giới trẻ, nhóm tiêu dùng lớn lên giữa áp lực học tập, công việc và mạng xã hội, chính là những người đang viết lại “luật chơi”. Theo dữ liệu từ Euromonitor International, thị trường các sản phẩm cải thiện tâm trạng dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) 12,3% cho đến năm 2028. Động lực này xuất phát từ thực tế khi có tới 58% người tiêu dùng toàn cầu xác nhận phải đối mặt với mức độ căng thẳng từ trung bình đến cực độ mỗi ngày.
Nói trên kênh CNBC, bà Ashley Dudarenok, nhà sáng lập công ty tư vấn ChoZan, nhận định người tiêu dùng hiện đại “không đơn thuần mua một sản phẩm vật lý, mà đang đầu tư vào cảm xúc, bản sắc cá nhân và cảm giác được kết nối”.
KHI PHẦN CỨNG HỌC CÁCH “ĐỒNG CẢM”
Bối cảnh đó buộc các tập đoàn công nghệ từ Mỹ, châu Âu đến Đông Á phải tái cấu trúc danh mục sản phẩm. Làn sóng chữa lành không dừng lại ở các phần mềm hỗ trợ tinh thần, mà đã thâm nhập sâu vào mảng phần cứng – phân khúc vốn trước đây chỉ xoay quanh các thông số kỹ thuật thuần túy.

Một trong những minh chứng rõ nét nhất là sự trỗi dậy của các thiết bị đồng hành mang tính cảm xúc, vốn không còn giới hạn ở đồ chơi công nghệ đơn thuần. Báo cáo từ 360iResearch công bố năm 2026 cho thấy, thị trường robot đồng hành toàn cầu đạt quy mô khoảng 1,41 tỷ USD vào năm 2025 và dự báo sẽ nâng lên mức 3,87 tỷ USD vào năm 2032, tương ứng mức tăng trưởng trung bình hơn 15%/năm.
Việc tích hợp cảm biến đa điểm, giao diện thoại và AI tạo sinh giúp các hệ thống này cung cấp khả năng tương tác, phản hồi và hỗ trợ tinh thần trong môi trường gia đình cũng như các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe.
Ở phân khúc “robot thú cưng” chuyên biệt, báo cáo của Future Market Insights ghi nhận Nhật Bản (quốc gia có tỷ lệ dân số già lên tới gần 30%) được dự báo tăng trưởng nhanh nhất thế giới, khi các nhà cung cấp dịch vụ y tế nước này tích cực tìm kiếm công nghệ thúc đẩy sự gắn kết xã hội và bầu bạn hàng ngày cho người cao tuổi.
Xu hướng này cũng thể hiện rõ ở các thiết bị âm nhạc và sáng tạo được thiết kế lại để phục vụ nhu cầu thư giãn thay vì chỉ hướng đến hiệu năng chuyên nghiệp. Cây đàn guitar không dây LiberLive C1, sản phẩm được tạp chí Time vinh danh là một trong những phát minh xuất sắc của năm, là một ví dụ. Thay vì đòi hỏi người chơi phải học nhạc lý, thiết bị dùng cảm biến áp lực để bất kỳ ai cũng có thể chạm và tạo ra âm nhạc, biến việc chơi nhạc thành một hoạt động thư giãn tức thời.

CƠ THỂ TRỞ THÀNH “MÀN HÌNH” CỦA SỨC KHỎE TINH THẦN
Nếu robot và nhạc cụ đại diện cho lớp sản phẩm “đồng hành”, thì thiết bị đeo (wearable) lại đang biến chính cơ thể người dùng thành nơi hiển thị dữ liệu cảm xúc. Các thương hiệu dẫn đầu như Oura, Whoop, Ultrahuman đã không còn chỉ đếm bước chân hay đo nhịp tim, mà chuyển sang xây dựng những “hệ thống sức khỏe” toàn diện xoay quanh stress, khả năng phục hồi và các dấu ấn sinh học.
Oura, chẳng hạn, giới thiệu tính năng “Cumulative Stress” – một chỉ số dài hạn kết hợp phản ứng nhịp tim, độ liên tục của giấc ngủ, biến động nhiệt độ cơ thể và vận động để cho thấy cơ thể tích lũy và giải phóng căng thẳng như thế nào trong khoảng một tháng, thay vì chỉ trong một ngày.
Đầu tháng 3/2026, Huawei ra mắt thế hệ vòng đeo tay HUAWEI Band 11 tại Việt Nam với tính năng theo dõi cảm xúc ngang hàng với các chỉ số sức khỏe truyền thống: thiết bị có thể nhận diện 12 trạng thái tâm trạng khác nhau và đưa ra bài tập thở tương ứng khi phát hiện dấu hiệu căng thẳng, thay vì chỉ dừng ở việc đo nhịp tim hay SpO2 như các thế hệ trước.
Song song với phần cứng, các nền tảng phần mềm hướng đến sự tĩnh tâm và chữa lành cũng đang mở rộng nhanh chóng. Thị trường ứng dụng thiền định và quản lý sức khỏe tinh thần toàn cầu được định giá 2,25 tỷ USD trong năm 2025 và dự kiến đạt 10,37 tỷ USD vào năm 2034, với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm 18,5%.

Calm, một trong những cái tên dẫn đầu thị trường này, ghi nhận doanh thu khoảng 596,4 triệu USD chỉ riêng trong năm 2024 – minh chứng cho việc sự bình yên, khi được đóng gói đúng cách, hoàn toàn có thể trở thành một mô hình kinh doanh có lãi chứ không chỉ là tính năng đi kèm.
Các nền tảng này cũng đang học theo chính công thức từng khiến mạng xã hội gây nghiện: cá nhân hóa sâu bằng AI. Nhiều nhà phát triển hiện tăng cường ứng dụng AI để tùy biến từng phiên thiền, gợi ý âm thanh và bài tập thở dựa trên thói quen, giờ giấc và cả tâm trạng được ghi nhận trước đó của từng người dùng.
Đây là một sự đảo chiều thú vị, khi thuật toán “biết bạn muốn gì” giờ được dùng để giúp người dùng rời màn hình nhẹ nhàng hơn, thay vì giữ chân họ lâu hơn. Đồng thời, khái niệm “detox kỹ thuật số” – chủ động giới hạn thời gian dùng điện thoại, tắt thông báo, cũng cho thấy giới trẻ vừa tìm đến công nghệ để chữa lành, vừa xem việc tạm rời xa công nghệ như một hình thức chữa lành khác. Cả hai xu hướng tưởng chừng đối lập ấy lại đang cùng tồn tại, bổ trợ cho nhau trong đời sống số hiện nay.

Với một thế hệ lớn lên giữa áp lực thành tích và quá tải thông tin, công nghệ chữa lành khó có thể chỉ là một trào lưu thoáng qua. Nhưng để thực sự trở thành một phân khúc bền vững thay vì một khẩu hiệu marketing khéo léo, ngành công nghiệp này sẽ còn phải chứng minh nhiều hơn nữa – rằng công nghệ không chỉ biết lắng nghe con người, mà còn thực sự biết cách xoa dịu những lo âu và căng thẳng thường ngày.
Ver2Solution theo Vneconomy
-
Trong Nước1 năm agoBáo cáo thị trường nước hoa Việt Nam 2023-2025
-
Social2 năm agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (01-09/03/2025)
-
Trong Nước1 năm agoBáo cáo thị trường trang sức Việt Nam 2023-2025
-
Khởi Nghiệp1 năm agoCách thương hiệu thời trang nội địa vượt “bão” đóng cửa hàng loạt
-
Livestream2 năm agoBí quyết bán hàng livestream doanh thu cao
-
Livestream1 năm agoTài liệu nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm ngẫu hứng của người tiêu dùng
-
Xu Hướng2 năm agoXu hướng thời trang 2025 khởi động, mở đầu Milan Fashion Week: Gucci là ông lớn nhưng Dsquared2 mới là cái tên chiếm sóng MXH
-
Các Nền Tảng MXH2 năm agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (10-16/03/2025)


