Khi số lượng quy định về điều kiện kinh doanh quá nhiều mà chất lượng lại thấp chính là biểu hiện rõ nét của tư duy “không quản được thì cấm”, tạo ra hệ thống pháp luật thiên về kiểm soát hơn là kiến tạo, tạo cơ hội và không gian phát triển. Yêu cầu của Tổng Bí thư và quyền tự do kinh doanh của Nhân dân.
Có thể xóa tan thành tựu của Nghị định 15/2018/NĐ-CP
Trong cuộc tọa đàm gần đây về sửa đổi Nghị định 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm, một vị đại diện doanh nghiệp FDI đã bày tỏ sự bất lực rằng: “Như vậy, quy định trong dự thảo có thể xóa tan thành tựu của Nghị định 15/2018/NĐ-CP, thậm chí gây tốn kém hơn nữa”.
Để chứng minh, ông phân tích, dự thảo quy định tổng cộng 31 nội dung doanh nghiệp phải tự công bố, cao hơn nhiều so với 5 nội dung, theo Nghị định 15 hiện hành.
Bên cạnh đó, vẫn theo Nghị định 15, doanh nghiệp được sản xuất, kinh doanh ngay sau khi nộp hồ sơ. Trong khi đó, theo dự thảo sửa đổi, sau khi doanh nghiệp nộp hồ sơ, trong 7 ngày cơ quan quản lý sẽ đăng tải lên website, và trong vòng 3 tháng sau khi đăng tải sẽ soát xét hồ sơ. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp chỉ được sản xuất sau 3 tháng 7 ngày.
Xin kể lại vắn tắt tinh thần cải cách của Nghị định 15. Trước đây, Nghị định 38/2012/NĐ-CP về an toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế yêu cầu doanh nghiệp phải xin cấp Giấy tiếp nhận bản công bố hoặc Giấy xác nhận công bố thì mới được tiến hành sản xuất, kinh doanh.
Quá trình cải cách thể chế trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm quả là gian nan. Ảnh: Nam Khánh
CIEM ước tính mỗi năm có từ 35.000 đến 45.000 lượt doanh nghiệp phải làm thủ tục này. Trung bình, doanh nghiệp sẽ mất khoảng 4 tháng với chi phí 10 triệu đồng đối với thực phẩm thường và 30 triệu đồng đối với thực phẩm chức năng để hoàn tất thủ tục chứng nhận và công bố sự phù hợp.
Yêu cầu này, cùng rất nhiều yêu cầu khác, đã gây bức xúc cho cộng đồng doanh nghiệp trong một thời gian dài.
Sau nhiều nỗ lực của Chính phủ, Nghị định 15/2018/NĐ-CP được ban hành thay thế Nghị định 38, với phương pháp quản lý an toàn thực phẩm chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Thay vì phải xin xác nhận từ cơ quan Nhà nước, nay các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm được tự công bố. Sự thay đổi này giúp giảm đến 90% chi phí hành chính, tiết kiệm 10 triệu ngày công và 3.700 tỷ đồng mỗi năm cho doanh nghiệp, theo tính toán của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham).
Kể lại câu chuyện này để thấy quá trình cải cách thể chế trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm quả là gian nan. Lẽ ra, doanh nghiệp cần tập trung nguồn lực để nghiên cứu, phát triển, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, hơn là suốt ngày phải lo về thủ tục hành chính như thế này.
Điều kiện kinh doanh núp bóng tiêu chuẩn, quy chuẩn
Điều kiện kinh doanh đã nở rộ như nấm sau mưa, như chúng tôi đã phân tích trong bài “Bảo vệ quyền tự do kinh doanh”. Trên thực tế, các điều kiện kinh doanh còn “núp bóng” hoặc “ẩn” trong tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Một số quy chuẩn kỹ thuật yêu cầu doanh nghiệp phải có cơ sở vật chất nhất định, đáp ứng diện tích tối thiểu của các cơ sở sản xuất, hay yêu cầu chứng chỉ hành nghề của nhân sự ở một số bộ phận… khi sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ.
Những quy chuẩn “núp bóng” đó, về bản chất, chính là các điều kiện kinh doanh. Chẳng hạn, từng có đề xuất quy định điều kiện về diện tích, cơ sở vật chất… đối với siêu thị mini, cửa hàng tiện lợi và trung tâm thương mại. Không rõ những quy định như trên có mục tiêu quản lý nhà nước ra sao, nhưng rõ ràng chúng ảnh hưởng đến lợi ích của các bên liên quan, trước hết là những người đầu tư kinh doanh thương mại.
VCCI tính toán, mỗi năm có khoảng 20 luật, gần 150 nghị định và khoảng 600 thông tư được ban hành. Bên cạnh đó là hàng nghìn công văn điều hành, trong đó không ít công văn có chứa đựng quy phạm pháp luật.
Văn bản hướng dẫn thi hành các luật quá nhiều về số lượng, chồng chéo, trùng lặp, hay thay đổi về nội dung, gây nguy cơ tùy ý và khó dự đoán trong thực thi, tạo rủi ro cho doanh nghiệp và người dân.
Câu hỏi đặt ra là liệu có xuất hiện tình trạng khôi phục lại các điều kiện kinh doanh đã được bãi bỏ, hoặc ban hành mới các quy định bất hợp lý về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật như trường hợp dự thảo Nghị định 15 nói trên – trong “rừng” văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, gây cản trở cho doanh nghiệp?.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong bài viết “PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN – ĐÒN BẨY CHO MỘT VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG” rằng: Kinh tế tư nhân phải là lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia… Kinh tế tư nhân cần phấn đấu trở thành lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo, để đạt mục tiêu đóng góp khoảng 70% GDP vào năm 2030…
Ông khẳng định, điều này đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong hoạch định chính sách,… Vì thế, Nhà nước phải có phương thức quản lý phù hợp với cơ chế thị trường, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân. Cần xóa bỏ mọi rào cản, minh bạch hóa chính sách, loại bỏ lợi ích nhóm trong hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực, không phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong mọi chính sách.
Đồng thời, cần nhất quán quan điểm “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”, xây dựng chính sách làm yên lòng các nhà đầu tư, doanh nghiệp và doanh nhân. Quan trọng hơn, phải tạo dựng niềm tin mạnh mẽ giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, qua đó khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, đổi mới sáng tạo và tham gia vào các lĩnh vực kinh tế có tính chiến lược.
Doanh nghiệp, người dân trong nước gặp quá nhiều rào cản kinh doanh như vậy thì làm sao phát triển, lớn lên để trở thành động lực quan trọng nhất?.
Cũng xin trích dẫn những phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm đang tạo nên sự thay đổi lớn để đất nước bước vào kỷ nguyên mới:
Thứ nhất, thể chế hiện nay là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” đối với phát triển; đột phá thể chế là “đột phá của đột phá”.
Thứ hai, phải từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” trong xây dựng pháp luật; đề cao phương pháp “quản lý theo kết quả”… và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, tạo không gian mới và động lực phát triển.
Thứ ba, luật pháp không chỉ để quản lý mà còn phải khuyến khích đổi mới, sáng tạo, thúc đẩy phát triển, tạo cơ hội và mở rộng không gian phát triển.
Thứ tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật… nhanh chóng khắc phục những chồng chéo, bất cập trong hệ thống hiện hành, tạo nền tảng pháp lý ổn định, dễ tuân thủ. Tinh thần là: một vấn đề, một nội dung chỉ quy định tại một luật; doanh nghiệp được tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm, còn cơ quan Nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.
Thứ năm, phân cấp mạnh, toàn diện cho địa phương theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Đề cao nguyên tắc thị trường trong huy động và phân bổ nguồn lực, đồng thời loại bỏ cơ chế “xin – cho” và tư duy bao cấp.
Không thể hạn chế quyền tự do kinh doanh của dân
Cần nhận thức rõ rằng các điều kiện kinh doanh, về bản chất, là rào cản hạn chế gia nhập thị trường. Càng có nhiều quy định về điều kiện kinh doanh thì càng lớn cản trở đối với cạnh tranh lành mạnh, đổi mới sáng tạo và phát triển, đặc biệt đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Khi số lượng quy định về điều kiện kinh doanh quá nhiều mà chất lượng lại thấp chính là biểu hiện rõ nét của tư duy “không quản được thì cấm”, tạo ra hệ thống pháp luật thiên về kiểm soát hơn là kiến tạo, tạo cơ hội và không gian phát triển.
Vì vậy, cần phải triệt để tháo bỏ những “điểm nghẽn” do các quy định về điều kiện kinh doanh các ngành nghề gây ra trong những Luật chuyên ngành để đảm bảo quyền tự do kinh doanh đã được hiến định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14, Hiến pháp 2013).
Rà soát tất cả các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh tương ứng trong Luật Đầu tư và pháp luật chuyên ngành. Chỉ giữ lại các ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi điều chỉnh theo khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013 và quản lý theo hình thức cấp giấy phép, giấy chứng nhận.
Thực hiện chương trình “cách mạng” về tinh giản quy định pháp luật, minh bạch hóa, số hóa và tự động hóa các quy trình, thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp và tổ chức khác. Chương trình này cần được triển khai trên nền tảng ứng dụng rộng rãi công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn…, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có môi trường kinh doanh thuộc nhóm dẫn đầu Đông Nam Á, với thể chế trở thành năng lực cạnh tranh vượt trội trong khu vực.
Thay vì nộp thuế trên toàn bộ doanh thu, hộ kinh doanh sẽ chỉ nộp thuế trên phần lãi hoặc trên doanh thu vượt ngưỡng quy định là đề xuất mới của Bộ Tài chính. Không phải chịu thuế từ đồng doanh thu đầu tiên, hộ kinh doanh sẽ nộp thuế trên lãi.
Bộ Tài chính vừa cho biết sẽ đề xuất Chính phủ về phương án thu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trên thu nhập (doanh thu trừ chi phí) với tất cả hộ kinh doanh (HKD), cá nhân kinh doanh có doanh thu trên ngưỡng không chịu thuế. Theo đó, dự kiến bổ sung quy định: cá nhân kinh doanh, HKD có doanh thu hằng năm trên ngưỡng không chịu thuế đến 3 tỉ đồng thì nộp thuế 15% trên lợi nhuận (tương ứng với doanh nghiệp). Trường hợp HKD có doanh thu dưới 3 tỉ đồng, nếu không xác định được chi phí, tiếp tục thực hiện nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu như hiện hành (với các mức thuế suất 0,5%; 1%; 2%… tùy ngành nghề). Tuy nhiên, cá nhân và các HKD này sẽ được trừ theo ngưỡng không chịu thuế trước khi tính thuế; nghĩa là các hộ sẽ không phải chịu thuế trên toàn bộ doanh thu từ đồng đầu tiên như hiện hành.
Việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế, giảm thuế suất cho cá nhân, HKD để hỗ trợ các đối tượng này có thêm nguồn vốn tái đầu tư kinh doanh, từ đó cũng tạo điều kiện hỗ trợ họ phát triển mạnh hơn, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
LS Nguyễn Đức Nghĩa, Giám đốc Công ty luật TNHH Việt Tín Nghĩa
Luật sư (LS) Trần Xoa, Giám đốc Công ty luật Minh Đăng Quang, đánh giá cao việc Bộ Tài chính đã tiếp thu các ý kiến góp ý. Hai phương án cho HKD lựa chọn cũng gỡ được nút thắt cho người nộp thuế. Theo đó, hộ nào có hóa đơn chứng từ đầu ra, đầu vào đầy đủ thì thực hiện tính thuế trên phần lợi nhuận với thuế suất 15%. Còn hộ nào không có hóa đơn, không xác định được chi phí thì cho trừ đi một ngưỡng doanh thu không chịu thuế, phần còn lại được tính theo tỷ lệ thuế, hiểu đơn giản là khoán thuế phần vượt ngưỡng. Thực tế, số HKD có hóa đơn chứng từ đầu ra, đầu vào không đầy đủ nên khả năng cao nhiều hộ sẽ thực hiện phương pháp khoán khi không xác định được chi phí. “Tuy nhiên, vấn đề ở đây là cơ quan này chưa đề cập ngưỡng doanh thu không chịu thuế là mức nào? Đây là điều quan trọng nhất để từ đó HKD sẽ lựa chọn phương pháp nộp thuế như thế nào”, LS Trần Xoa băn khoăn.
Ông Nguyễn Ngọc Tịnh, Phó chủ tịch Hội Tư vấn và đại lý thuế TP.HCM, cũng đánh giá cao việc Bộ Tài chính đã tiếp thu ý kiến để tính thuế TNCN với cá nhân, HKD trên phần lãi là hợp lý. Nếu để lựa chọn thì có lẽ đa số người có doanh thu dưới 3 tỉ đồng sẽ nộp thuế trên phần vượt ngưỡng chịu thuế. Đơn cử, nếu ngưỡng chịu thuế được nâng lên 1 tỉ đồng/năm, thì HKD có doanh thu 2 tỉ đồng/năm sẽ nộp thuế trên phần 1 tỉ đồng. Giả sử hộ này thuộc lĩnh vực đóng thuế TNCN 0,5% thì số thuế phải nộp là 5 triệu đồng/năm. Giả sử hộ này có chứng từ để chứng minh mức lãi là 10% thì doanh thu 1 tỉ đồng sẽ tương đương lãi 100 triệu đồng; khi đó nếu chọn phương pháp nộp thuế 15% trên mức lãi thì họ phải nộp 15 triệu đồng. “Khi lựa chọn nộp thuế theo phương pháp trực tiếp với thuế suất thì bị vướng với quy định HKD có doanh thu trên 1 tỉ đồng bắt buộc phải sử dụng hóa đơn hay không. Điều này cần cơ quan thuế xem xét và hướng dẫn”, ông Tịnh nêu vấn đề.
Ông Nguyễn Ngọc Tú, giảng viên Trường ĐH Kinh doanh và công nghệ Hà Nội, chia sẻ khó khăn với Bộ Tài chính trong việc xây dựng chính sách thuế đối với HKD, bởi đây là đối tượng không có sổ sách chứng từ, kế toán. Trước đây áp dụng mức doanh thu 100 triệu đồng là quá thấp, không hợp lý và ngay cả tăng ngưỡng lên 500 triệu đồng hay 1 tỉ đồng cũng không phải nhiều; thế nhưng việc đưa ngưỡng doanh thu cao hơn thì ông Tú lo ngại “vùng xám” trong nền kinh tế sẽ gia tăng, không kiểm soát được. Lúc này, hàng triệu HKD không thực hiện hóa đơn chứng từ, chỉ chọn thuế khoán trên doanh thu bởi các hộ được trừ đi ngưỡng không chịu thuế. “Vậy sẽ không còn động lực để khuyến khích chuyển đổi mô hình HKD lên doanh nghiệp (DN) trong những năm tới. Bỏ thuế khoán từ năm 2026 nhưng mục tiêu công khai minh bạch kinh doanh, chuyển đổi số trong nền kinh tế, không phải mục tiêu thu ngân sách. Do đó cần có chính sách khuyến khích hộ chuyển đổi lên DN để công khai, minh bạch hoạt động kinh doanh”, ông Tú lưu ý.
Nâng ngưỡng chịu thuế với HKD tối thiểu 1 tỉ đồng
PGS-TS Trần Hoàng Ngân (đại biểu Quốc hội) cho rằng đề xuất mới của Bộ Tài chính trên cơ sở lắng nghe ý kiến thẩm tra, ý kiến của nhiều tổ chức và đại biểu Quốc hội đã hợp lý hơn, nhưng quan trọng là ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với HKD được quy định bao nhiêu? Nhiều ý kiến đề xuất ngưỡng tính thuế đối với HKD phải từ trên 1 tỉ đồng và điều này là phù hợp. Bởi theo quy định đã được Quốc hội thông qua đối với thuế TNCN từ tiền công, tiền lương, từ đầu năm 2026, mỗi cá nhân sẽ được giảm trừ gia cảnh (GTGC) cho bản thân là 15,5 triệu đồng/tháng và mỗi người phụ thuộc sẽ được giảm trừ 6,2 triệu đồng/tháng. Một HKD thông thường có 2 vợ chồng và 2 con là người phụ thuộc thì tổng cộng mức GTGC sẽ là 43,4 triệu đồng/tháng, tương ứng 520,8 triệu đồng/năm.
Song song đó, HKD cũng được khấu trừ nhiều chi phí khác cho đời sống thiết yếu như các loại phí bảo hiểm, đóng góp từ thiện… Vậy thì khi xác định ngưỡng doanh thu bắt đầu chịu thuế phải cao hơn nhiều. Ông Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh: Ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với HKD phải lên trên 1 tỉ đồng/năm. Các HKD, cá nhân kinh doanh trong thời gian qua đóng góp khoảng 30% GDP cả nước, giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 10 triệu lao động và đây là đóng góp rất lớn cho nền kinh tế. Chính sách thuế cần phải tiếp sức, hỗ trợ cho khu vực kinh tế này phát triển. Hộ kinh doanh sẽ nộp thuế trên lãi.
Cần nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với hộ kinh doanh lên tối thiểu 1 tỉ đồng/năm
ẢNH: NG.NGA
LS Nguyễn Đức Nghĩa, Giám đốc Công ty luật TNHH Việt Tín Nghĩa, đồng quan điểm ngưỡng chịu thuế của HKD phải trên 1 tỉ đồng. Theo ông, giả sử lợi nhuận của các gia đình là 10% thì mức lãi chỉ được 100 triệu đồng/năm, tương đương 8,33 triệu đồng/tháng. Nếu tỷ lệ lãi tối đa trong kinh doanh lên 15% thì hộ gia đình có mức lãi được 150 triệu đồng/năm, tương đương 12,5 triệu đồng/tháng. Nếu số tiền lãi này chia cho bình quân 4 người/hộ thì không thể nào đủ sống, nếu chia cho 3 người thì cũng vẫn là thu nhập thấp. Thậm chí nếu một cá nhân kinh doanh thì mức lãi tối đa 12,5 triệu đồng/tháng cũng chưa bằng mức GTGC đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công. Như vậy tối thiểu phải trừ đi doanh thu 1 tỉ đồng và phần thu nhập trên ngưỡng này mới bắt đầu tính thuế đối với HKD.
Để làm rõ hơn cơ sở ngưỡng 1 tỉ đồng mà nhiều người đề xuất, LS Trần Xoa phân tích: Mức GTGC cho người nộp thuế TNCN áp dụng từ năm 2026 là 15,5 triệu đồng/tháng đối với người nộp thuế và 6,2 triệu đồng/tháng đối với người phụ thuộc, tính ra phần giảm trừ là 21,7 triệu đồng mỗi tháng. Làm tròn số phần miễn giảm là 20 triệu đồng/tháng, tương đương lợi nhuận 10% thì doanh thu mỗi năm lên 2,4 tỉ đồng. Tuy nhiên mức này quá cao và gây khó khăn cho ngân sách nên ông Xoa đề xuất ngưỡng chịu thuế tăng lên 1 tỉ đồng/năm.
Chỉnh sửa quy định về thuế giá trị gia tăng đồng bộ
Nếu thay đổi ngưỡng doanh thu áp dụng đối với HKD trong luật Thuế TNCN thì các chuyên gia cho rằng cần phải sửa luôn quy định tại luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) năm 2024. Cụ thể, luật Thuế GTGT năm 2024 quy định cá nhân, HKD có doanh thu trên 200 triệu đồng/năm phải đóng thuế GTGT. Theo LS Trần Xoa, HKD hiện nộp thuế GTGT và thuế TNCN nên không thể tách rời. Hơn nữa, thuế suất thuế GTGT cao hơn thuế suất thuế TNCN từ 2 – 2,5 lần. Như vậy, nếu chỉ nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế TNCN mà không đề cập hay nâng ngưỡng chịu thuế GTGT tương ứng với cá nhân, HKD là không phù hợp, từ đó có thể bất cập khi đưa vào thực hiện. Vì vậy sau khi nâng ngưỡng chịu thuế TNCN thì nâng ngưỡng chịu thuế GTGT đồng bộ cho HKD. Đây chỉ là giải pháp kỹ thuật để các chính sách thuế được thực hiện cho nhóm đối tượng này phù hợp từ năm sau.
Theo LS Nguyễn Đức Nghĩa, ngoài việc nâng ngưỡng chịu thuế TNCN và thuế GTGT cho các hộ gia đình, Chính phủ cần xem xét giảm thuế suất thuế TNCN cho các đối tượng này. Hiện nay, thuế suất TNCN đối với HKD được quy định từ 0,5% – 5% tùy ngành nghề. Ông đề nghị giảm thuế suất 5% xuống còn 3%, đây là thuế suất áp dụng cho thuê nhà, đất, cửa hàng hay phương tiện vận tải…; còn thuế suất 2% giảm xuống còn 1,5%. Ông Nghĩa nhấn mạnh: “Việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế, giảm thuế suất cho cá nhân, HKD để hỗ trợ các đối tượng này có thêm nguồn vốn tái đầu tư kinh doanh, từ đó cũng tạo điều kiện hỗ trợ họ phát triển mạnh hơn, tăng sức cạnh tranh trên thị trường”.
Đồng tình, PGS-TS Trần Hoàng Ngân cho rằng nên xem xét lại thuế suất thuế TNCN trên doanh thu của các cá nhân, HKD theo từng ngành nghề theo hướng điều chỉnh giảm. Song song đó, cần có thêm chính sách hỗ trợ riêng cho các gia đình ở các vùng nghề để hỗ trợ giữ gìn văn hóa làng nghề; bởi HKD ở những làng nghề, vùng nông thôn hầu hết là những người lớn tuổi, không quen với chứng từ sổ sách nên rất khó để thực hiện kê khai sổ sách rõ ràng, minh bạch. “Chính sách thuế phải mang tính hỗ trợ, nuôi dưỡng nguồn thu. Hơn nữa, từ đầu năm tới khi bỏ thuế khoán thì cần phải có quá trình quá độ để HKD làm quen với chế độ kế toán sau thời gian dài chỉ ghi chép đơn giản, lời lãi không biết hay thậm chí không nhớ ai nợ nần bao nhiêu. Quan trọng nhất là giúp khu vực HKD nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyên nghiệp hơn và khuyến khích trở thành DN, tiến đến đạt mục tiêu cả nước có 2 triệu DN vào năm 2030 mà Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị đã đề ra”, PGS-TS Trần Hoàng Ngân nói.
Theo số liệu quản lý thuế, đến tháng 10.2025, cả nước có khoảng 3,83 triệu HKD. Theo cơ quan thuế, có 883.000 hộ có doanh thu từ 200 triệu đồng đến 3 tỉ đồng/năm là nhóm sẽ chịu tác động chính trong việc thay đổi chính sách thuế từ đầu năm 2026. Riêng 39.000 hộ có doanh thu trên 3 tỉ đồng đã áp dụng kê khai nên ít bị ảnh hưởng.
Nhiều nước hỗ trợ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp
Trên thế giới, nhiều quốc gia không có khái niệm HKD tách bạch như VN, nhưng tồn tại mô hình tương tự là DN cá thể (sole proprietorship) – hình thức kinh doanh do một cá nhân làm chủ, chịu trách nhiệm vô hạn và lợi nhuận được tính vào thu nhập chịu thuế của chủ sở hữu, thường bao gồm 3 đối tượng: DN cá thể, HKD và cá nhân kinh doanh. Các DN cá thể ở các nước thường có thủ tục đăng ký đơn giản, chi phí thấp, và được áp dụng chế độ thuế TNCN thay vì thuế thu nhập DN. Về quản lý thuế, hầu hết các nước cho phép cá nhân kinh doanh nhỏ không bắt buộc lập DN pháp nhân mà vẫn hoạt động với mã số thuế cá nhân. Tuy nhiên, khi doanh thu hoặc số lao động vượt ngưỡng nhất định, họ phải đăng ký thành lập DN hoặc tuân thủ chế độ kế toán, báo cáo thuế như DN. Nhiều quốc gia áp dụng thuế khoán hoặc thuế đơn giản cho cá nhân kinh doanh nhỏ để giảm gánh nặng hành chính, nhưng luôn có cơ chế chuyển lên khai thuế theo sổ sách khi quy mô lớn hơn.
Tại Trung Quốc hiện tồn tại cả 2 đối tượng: DN cá thể và HKD (HKD cá thể và HKD tiểu chủ), tương đồng với VN. Tuy nhiên, các đối tượng này có các chính sách, quy định để khuyến khích riêng; trong đó DN cá thể được quy định tại luật DN cá thể, còn HKD được quy định tại bộ luật Dân sự. Tại Singapore, Malaysia, Thái Lan, DN cá thể được đăng ký dễ dàng và đóng thuế TNCN; riêng Thái Lan quy định doanh thu trên mức nhất định thì phải lập công ty. Một số nước cũng triển khai các biện pháp hỗ trợ HKD chuyển đổi lên DN. Ví dụ, Hàn Quốc và Nhật Bản có chính sách miễn, giảm thuế trong vài năm đầu khi hộ lên DN; Trung Quốc miễn thuế môn bài và giảm thuế TNCN cho hộ mới chuyển đổi; Indonesia đơn giản hóa báo cáo thuế cho DN siêu nhỏ để khuyến khích hộ đăng ký DN. Bên cạnh đó, các nước chú trọng xây dựng hệ thống thuế điện tử thuận tiện cho cá nhân kinh doanh kê khai, nộp thuế; tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn (ngân hàng, hóa đơn điện tử, máy POS…) để giám sát doanh thu của HKD, chống thất thu.
Từ kinh nghiệm quốc tế, có thể thấy xu hướng chung là tạo điều kiện tối đa về thủ tục và thuế suất cho HKD, nhưng đồng thời có lộ trình đưa các hộ lớn vào khuôn khổ DN chính thức khi họ đủ lớn, nhằm đảm bảo bình đẳng và tăng hiệu quả quản lý thuế.
Đại biểu Quốc hội phản ánh vấn đề dư luận rất lo lắng là tình trạng người nổi tiếng bán hàng qua phiên livestream với doanh thu lớn, nhưng quảng cáo sai sự thật, bán hàng giả, hàng kém chất lượng, và né tránh trách nhiệm khi người tiêu dùng phản ánh. Livestream bán mỹ phẩm phải cung cấp hồ sơ?
Bổ sung cơ chế kiểm soát các phiên livestream
Chiều 13/11, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Thương mại điện tử. Vấn đề livestream bán hàng, quy định cấp phép livestream hay bảo vệ trẻ em trong các hoạt động livestream được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm.
Đại biểu Hoàng Thị Thanh Thúy (đoàn Tây Ninh) đề cập vấn đề mà dư luận rất lo lắng là tình trạng người livestream, đặc biệt là người nổi tiếng, bán hàng qua phiên livestream với doanh thu lớn nhưng quảng cáo sai sự thật, bán hàng giả, hàng kém chất lượng và né tránh trách nhiệm khi người tiêu dùng phản ánh.
Dự thảo luật đã xác định trách nhiệm của ba chủ thể chính trong hoạt động livestream bán hàng gồm: Người bán, người livestream và nền tảng. Dù vậy, theo đại biểu, khi đối chiếu với một số tình huống thực tế, chẳng hạn như các vụ việc người nổi tiếng livestream bán hàng kém chất lượng, thổi phồng công dụng của thực phẩm chức năng, hoặc sử dụng kỹ thuật “seeding ảo” để thao túng niềm tin người mua, thì vẫn còn một số “khoảng trống” cần được làm rõ để tăng tính khả thi của luật.
Bên cạnh đó, trường hợp người livestream đưa thông tin vượt quá nội dung quảng cáo đã được xác nhận, cũng chưa có cơ chế xử lý riêng, nhất là vấn đề trách nhiệm liên đới với người bán. Đối với nền tảng, hiện mới chỉ có nghĩa vụ gỡ bỏ nội dung vi phạm, nhưng chưa có quy định liên quan đến kiểm soát thuật toán đề xuất, ưu tiên hiển thị livestream, trong khi đây là yếu tố bị cho là có thể tạo hiệu ứng “đám đông”, kéo khách mua theo trào lưu.
Từ những lý do trên, đại biểu Thuý đề nghị bổ sung cơ chế kiểm soát trước khi phát trực tiếp đối với các phiên livestream quảng cáo công dụng, đặc biệt với các sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe như thực phẩm chức năng, mỹ phẩm theo hướng người bán, người livestream phải cung cấp hồ sơ sản phẩm cho nền tảng thương mại điện tử để rà soát có điều kiện.
Bên cạnh đó, cần làm rõ trách nhiệm liên đới của người livestream trong trường hợp đưa thông tin vượt quá hoặc sai lệch so với hồ sơ hàng hóa do người bán cung cấp, đồng thời bổ sung biện pháp xử lý như cấm livestream trong thời gian nhất định.
“Cần xem xét, phân loại người livestream có doanh thu lớn để áp dụng cơ chế kiểm soát chặt hơn, tương tự cách một số quốc gia đang thực hiện”, nữ đại biểu Quốc hội đề nghị.
Phân loại độ tuổi đối với các phiên livestream
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) cho rằng, cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể, như: Người bán chịu trách nhiệm chính về chất lượng, nguồn gốc hàng hóa; người livestream chịu trách nhiệm trong phạm vi nội dung mà họ trình bày hoặc khẳng định, quảng cáo; tổ chức cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi dịch vụ kỹ thuật…
“Việc thiếu các quy định cụ thể sẽ dẫn tới thực hiện không thống nhất trên thực tế, gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý và các bên trong hoạt động livestream”, Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nói và đề nghị bổ sung hình thức yêu cầu gỡ bỏ, ngăn chặn của cơ quan có thẩm quyền bằng văn bản thông thường hoặc xác thực điện tử; bổ sung thời hạn thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Liên quan bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên trước những livestream có nội dung không phù hợp, bà Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định nền tảng thương mại điện tử phải kiểm soát, phân loại nội dung livestream theo độ tuổi, hiển thị cảnh báo khi nội dung có yếu tố nhạy cảm, nguy hiểm hoặc không phù hợp với trẻ em; yêu cầu người livestream và người bán lựa chọn chế độ phân loại độ tuổi đối với các phiên livestream bán sản phẩm không phù hợp với từng độ tuổi.
Đồng thời, khi phát hiện các livestream có nội dung không phù hợp với thuần phong mỹ tục, văn hóa, quy định pháp luật, gây hại cho trẻ em cần có cơ chế báo cáo, phối hợp giữa nền tảng và cơ quan quản lý để gỡ bỏ nhanh đối với nội dung livestream đó.
Đại biểu Quốc hội cho rằng các sàn bán online, nền tảng livestream phải bồi thường nếu bán hàng giả, quảng bá được xác định gây hại cho người tiêu dùng.
Quan điểm này được bà Trịnh Thị Tú Anh – Ủy viên Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội nêu khi góp ý dự thảo Luật Thương mại điện tử, tại hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách, ngày 30/9.
Tại dự thảo luật, Bộ Công Thương đề xuất các nền tảng thương mại điện tử phải công khai thông tin về người bán, sản phẩm, dịch vụ, điều kiện và chính sách giao hàng, cũng như cơ chế thanh toán, giải quyết tranh chấp… Các sàn phải tự kiểm duyệt thông tin trước khi đăng tải, rà soát và gỡ sản phẩm vi phạm. Chủ quản nền tảng bán hàng online có trách nhiệm định danh người bán hàng trong nước trên mạng qua VNeID. Người bán nước ngoài sẽ được định danh qua giấy tờ chứng minh tính hợp pháp.
Bà Trịnh Thị Tú Anh cho rằng ngoài các quy định trên, cần bổ sung chế tài xử lý với các nền tảng livestream, chủ sàn online. “Các sàn thương mại điện tử, nền tảng livestream phải bồi thường nếu sản phẩm quảng bá qua thuật toán ưu tiên, hiển thị của họ bị xác định gây hại cho người tiêu dùng”, bà nói, thêm rằng việc này nhằm ngăn ngừa hàng giả, hàng kém chất lượng được bán trực tuyến công khai.
Ngoài ra theo bà, các nền tảng cũng phải công khai thông tin về sản phẩm như nguồn gốc, chất lượng và thông số liên quan trước khi giao dịch hoàn tất. Việc này nhằm giúp người mua đưa ra các quyết định mua sắm sáng suốt và giảm rủi ro bị lừa đảo.
Theo Bộ Công Thương, số lượng website và ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (như các sàn giao dịch, nền tảng trung gian) tăng 27 lần trong 10 năm qua, đạt 1.048 nền tảng vào cuối 2024.
Liên quan tới cơ chế giải quyết tranh chấp, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cho rằng các quy định hiện tại quá phức tạp khiến người tiêu dùng bất lợi, nhất là khi họ đối mặt với doanh nghiệp lớn. Bà đề nghị có một cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại điện tử độc lập hoặc xây dựng hệ thống trọng tài điện tử với thủ tục đơn giản, chi phí thấp, khả năng thực thi nhanh. Các đơn vị, tổ chức này sẽ giúp người tiêu dùng dễ dàng bảo vệ quyền lợi, không bị vướng rào cản thủ tục hành chính.
Thực tế, việc kiểm soát hàng trăm nghìn phiên livestream mỗi ngày là một thách thức lớn. Do vậy, bà kiến nghị chuyển giao một phần nghĩa vụ giám sát cho các nền tảng, yêu cầu họ chủ động, tự động phát hiện và ngăn chặn vi phạm như nội dung quảng cáo lừa đảo, giả mạo. Các cơ quan quản lý sẽ chuyển sang vai trò giám sát việc tuân thủ và trình tự kiểm soát của nền tảng.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Hải Nam – Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đề xuất lập cơ quan đặc thù để giải quyết khiếu nại cho người mua hàng qua thương mại điện tử, nền tảng livestream.
5 tháng đầu năm nay, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số cùng với Cục An toàn thực phẩm, Quản lý dược (Bộ Y tế) kiểm tra, giám sát và ban hành 9 văn bản yêu cầu các nền tảng rà soát, ngăn chặn sản phẩm, dịch vụ bị cấm và hạn chế kinh doanh. Các sàn đã gỡ bỏ 34.677 sản phẩm và chặn 11.558 gian hàng vi phạm hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin.
Giải trình tại hội nghị, Thứ trưởng Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho hay việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được quy định trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng sửa đổi. Những nội dung liên quan xử lý các hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại sẽ được cơ quan soạn thảo tiếp thu, bổ sung tại dự thảo luật.
Ngoài ra, ông Tân cho biết Bộ Công Thương cân nhắc về việc thành lập một cơ quan mới, nên sẽ “sử dụng bộ máy cũ, trong đó Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số chịu trách nhiệm quản lý về vấn đề này”.
Góp ý dự thảo Luật Tiết kiệm, chống lãng phí, bà Nguyễn Minh Tâm – Phó trưởng đoàn chuyên trách tỉnh Quảng Trị cho rằng cần quy định rõ việc bảo mật thông tin về tham nhũng, lãng phí.
Theo bà, dự thảo luật lần này bổ sung quy định cá nhân, tổ chức có quyền cung cấp thông tin cho người đứng đầu cơ quan thanh tra, kiểm tra… và họ sẽ được bảo vệ. Tuy nhiên, cùng với việc bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí, dự luật cần có thêm cơ chế bảo mật thông tin để tránh việc họ bị trù dập, trả thù, cũng như quyền được biết cách xử lý thông tin do người dân cung cấp của cơ quan chức năng.
Ông Mai Văn Hải – Phó trưởng đoàn chuyên trách tỉnh Thanh Hóa cũng nhìn nhận dự thảo quy định về xử lý thông tin phát hiện lãng phí vẫn còn khá chung chung. Ví dụ, người đứng đầu cơ quan nhận thông tin có trách nhiệm xem xét, xử lý, nhưng họ chỉ xem xét thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị của họ.
Do đó, ông đề nghị cần phân loại cụ thể những thông tin về phát hiện lãng phí. Thông tin liên quan trực tiếp đến cơ quan tổ chức nào, thủ trưởng cơ quan tổ chức đó phải có trách nhiệm xem xét, kết luận. Trường hợp không thuộc trách nhiệm, họ phải chuyển đến các bên có thẩm quyền để xem xét, giải quyết.
Dự thảo Luật Thương mại điện tử và Luật Tiết kiệm, chống lãng phí sẽ được trình Quốc hội xem xét, thảo luận tại kỳ họp thứ 10, dự kiến khai mạc vào 20/10.