Social
Tìm hiểu về Baby Boomers, Gen X, Gen Y, Gen Z và Gen Alpha
Tìm hiểu về Baby Boomers, Gen X, Gen Y, Gen Z và Gen Alpha, sự khác biệt lớn giữa các thế hệ đang tạo ra vô số những thách thức cho người làm marketing.

Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những sự khác biệt của các thế hệ (Generation) như Baby Boomers, Gen X, Gen Y, Gen Z và Gen Alpha.
Theo nghiên cứu của Giáo sư Philip Kotler và đồng nghiệp, hiện có 5 thế hệ hay còn được gọi tắt là Gen mà người làm Marketing cần nghiên cứu và tìm hiểu đó là Gen X, Gen Y, Gen Z, Gen Alpha và Baby Boomers.
- Baby Boomers – được sinh ra từ năm 1946 đến 1964.
- Gen X – sinh năm từ 1965 đến 1980.
- Gen Y – những người được sinh ra từ giữa những năm 1981 và 1996.
- Gen Z – những người sinh giữa những năm 1997 và 2009.
- Gen Alpha – bao gồm những người sinh từ năm 2010 đến 2025.
Dưới đây là những insights thú vị từ các thế hệ Baby Boomers, Gen X, Gen Y, Gen Z và Gen Alpha.
Thế hệ gen X, Y, Z, Alpha có gì khác nhau?
| Thế hệ | Gen X | Gen Y (Millennials) | Gen Z | Gen Alpha |
| Thời gian | 1965 – 1980 | 1981 – 1996 | 1997 – 2012 | 2013 – 2025 |
| Sự kiện lịch sử | Bùng nổ dân số sau Thế chiến II, Chiến tranh Lạnh, Sự sụp đổ của tường Berlin | Sự sụp đổ của Liên Xô, Sự phát triển của internet | Sự phát triển của công nghệ, Mạng xã hội, Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 | Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, Công nghệ thực tế ảo, Đại dịch COVID-19 |
| Tiếp cận thông tin | Truyền thông truyền thống (TV, báo giấy) | Internet, truyền thông kỹ thuật số | Truyền thông kỹ thuật số, nền tảng trực tuyến | Truyền thông kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo |
| Giao tiếp | Điện thoại cố định, thư từ | Email, tin nhắn văn bản | Tin nhắn, video call, mạng xã hội | Ứng dụng nhắn tin, video call, trí tuệ nhân tạo |
| Quan niệm xã hội | Làm việc với sự ổn định, tận hưởng thành quả cá nhân | Đa dạng, công việc có ý nghĩa, sống cân bằng | Thể hiện cá tính bản thân rõ ràng, quan tâm đến cộng đồng, hành động tích cực | Môi trường đa văn hóa, quan tâm đến tương lai, kỹ năng kỹ thuật số |
| Giáo dục | Truyền thống, hướng nghiệp truyền thống | Đại học, học trực tuyến, tự học | Học trực tuyến, học theo yêu cầu, trải nghiệm thực tế | Học trực tuyến, trải nghiệm tương tác, trí tuệ nhân tạo |
| Tư duy | Đóng cửa, tập trung vào công việc, sự riêng tư | Đa nhiệm, linh hoạt, sáng tạo | Đa nhiệm, súc tích, khả năng tự học | Đa nhiệm, sử dụng công nghệ, tư duy sáng tạo, tò mò về thế giới |
Lưu ý: Đây chỉ là một số điểm khác nhau chung và có thể có sự chồng chéo giữa các thế hệ. Sự khác biệt cụ thể cũng có thể thay đổi tùy thuộc vào các cá nhân trong từng thế hệ.
Các thế hệ Gen X, Y, Z hay Alpha đã chứng kiến những cuộc cách mạng công nghệ và xã hội đáng kinh ngạc trong thế kỷ 21. Từ Gen X, người đã trải qua sự thay đổi từ thế giới analog sang kỷ nguyên số, đến Gen Y (hay còn gọi là Millennials), những người đã trở thành những nhà lãnh đạo kỹ thuật số và đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng xã hội.
Hay Gen Z, thế hệ trẻ đã trở thành những người tiêu dùng thông minh, sáng tạo và đam mê công nghệ. Họ đã chứng kiến sự bùng nổ của di động, mạng xã hội và truyền thông kỹ thuật số, tạo ra một thế giới kết nối liên tục và thông tin nhanh chóng. Mới đây nhất là gen Alpha, thế hệ đầu tiên sinh ra và lớn lên trong một thế giới hoàn toàn số hóa. Đây là những đứa trẻ thông minh, linh hoạt và sẵn sàng thích ứng với công nghệ. Với sự phát triển không ngừng của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, Gen Alpha đặt ra một tiềm năng tuyệt vời cho tương lai với những cơ hội và thách thức mà trước đây không ai có thể tưởng tượng được.
Mỗi thế hệ Gen mang đến những đóng góp độc đáo và tạo ra những thay đổi to lớn trong xã hội và kinh tế. Từ việc thay đổi cách thức làm việc, giao tiếp, mua sắm và giải trí, các thế hệ Gen đã thúc đẩy sự tiến bộ và sáng tạo trong nhiều lĩnh vực.
1. Baby Boomers.
Thế hệ hay Gen đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu đó là Baby Boomers, vậy Baby Boomers là Gen gì và họ có gì đặc biệt.
Theo thứ tự Baby Boomers, Gen X, Gen Y, Gen Z và Gen Alpha, Baby Boomers là những người lớn tuổi nhất, họ được sinh ra từ năm 1946 đến 1964.
Thuật ngữ baby boom liên quan đến tỷ lệ sinh đẻ cao ở Mỹ – và nhiều nơi khác trên thế giới – được theo sau bởi sự kết thúc của thế chiến 2 (World War II).
Với nền kinh tế và an ninh hậu chiến tranh, nhiều cặp đôi đã quyết định có em bé, những người đã trở thành thị trường mục tiêu trọng yếu cho những người làm marketing hiện tại.
Những người đầu tiên của thế hệ, họ là những thanh thiếu niên vào những năm 1960, được nuôi dưỡng trong những gia đình tương đối sung túc.
Tuy nhiên, tuổi thanh xuân của họ đã được trải qua dưới những căng thẳng của các vấn đề chính trị xã hội trong suốt cả thập kỷ. Kết quả là, họ thường liên quan với các phong trào phản văn hoá tại Mỹ và những quốc gia phương Tây khác.
Nhiều khái niệm không chính thống như hoạt động xã hội (social activism), chủ nghĩa môi trường (environmentalism), và lối sống hyppie (hippie lifestyle) cũng đã được nổi lên trong thời kì này. Phong trào phản văn hoá đã được khuếch đại hơn nữa bởi sự nổi lên của Tivi và quảng cáo cũng như làn sóng Hollywood mới.
Không giống như những người sinh ra trong thời kì đầu của thế hệ (early Boomers), những người được sinh ra cuối cùng trong thế hệ (late Boomers) – còn được biết đến là Gen Jones (Generation Jones) – phải sống trong một thời kì kiệt quệ của nền kinh tế.
Có bố mẹ đang trong độ tuổi làm việc, họ đã sống một cách độc lập và làm việc chăm chỉ hơn trong những sự nghiệp đầu đời của họ. Thế hệ phụ trong Baby Boomers này chính là tiền thân của Gen X – Họ có nhiều đặc điểm tính cách tương đồng với nhau.
Bởi vì quy mô tuyệt đối của nó và sự bùng nổ của nền kinh tế hậu chiến tranh của Mỹ trong quá trình họ được nuôi dạy, Baby Boomers đã trở thành một trong những nguồn lực kinh tế trọng yếu.
Trong nhiều thập kỷ, Baby Boomers là mục tiêu của các Marketer trước khi Gen Y đông hơn họ. Ngày nay, khi họ được sống trong một môi trường khoẻ mạnh hơn và sống lâu hơn, nhiều Baby Boomers đã trì hoãn quá trình nghỉ hưu và tiếp tục mở rộng sự nghiệp của họ đến năm ngoài 65 tuổi.
Hiện vẫn giữ các vai trò điều hành trong các tổ chức, Baby Boomers thường bị chỉ trích bởi những thế hệ trẻ hơn do sự thiếu thiện chí trong việc thích nghi những công nghệ mới và phá vỡ những sự khôn ngoan trong kinh doanh.
2. Gen X là thế hệ thứ 2 Sau Baby Boomers, trước Gen Y, Gen Z và Gen Alpha.
Gen X là một nhóm nhân khẩu học của những người sinh năm từ 1965 đến 1980, vậy Gen X là Gen gì?
Bị lu mờ và kẹp giữa bởi tính đại chúng của Baby Boomers và Gen Y, Gen X đã rơi khỏi tầm ngắm của những người làm marketing và do đó họ được mệnh danh là “đứa trẻ ở giữa bị quên lãng”.
Nhóm Gen X trải nghiệm những sóng gió kinh tế của những năm 1970 và sự bất ổn của năm 1980 trong suốt tuổi thơ và tuổi thanh xuân của họ nhưng lại gia nhập lực lượng lao động trong một vị thế kinh tế tốt hơn.
Họ liên quan mật thiết với khái niệm “bạn bè và gia đình”. Lớn lên trong những gia đình ly hôn hoặc hai nguồn thu nhập, những đứa trẻ Gen X sử dụng ít thời gian hơn với gia đình của họ và tương tác nhiều hơn với bạn bè.
Mối quan hệ đồng lứa mạnh mẽ trong Gen X đã tăng lên thành chân dung tình bằng hữu trong các chương trình truyền hình ăn khách của những năm 1990, chẳng hạn như Beverly Hills 90210 và Friends.
Là nhóm những đứa trẻ ở giữa (middle-child cohort), Gen X trải nghiệm những sự chuyển đổi công nghệ trọng yếu, điều đã khiến họ có khả năng thích nghi tốt hơn. Trong thời niên thiếu của họ, Gen X đã lớn lên cùng với việc xem các video âm nhạc trên kênh MTV và nghe nhạc từ thiết bị Walkman của họ.
Khi trưởng thành hơn, họ trải nghiệm cách sử dụng CDs và MP3s cũng như các dịch vụ phát audio để nghe nhạc. Họ chứng kiến sự tăng lên và thoái trào của dịch vụ cho thuê DVD và chuyển đổi đến việc phát trực tuyến video.
Điều quan trọng nhất, sự gia nhập của họ vào lực lượng lao động đã được đánh dấu bằng sự tăng trưởng của internet – khiến họ trở thành những người thích nghi sớm nhất của sự kết nối.
Cho dù bị bỏ qua bởi hầu hết những người làm marketing, Gen X đã trở thành một trong những thế hệ có sức ảnh hưởng nhất trong nguồn lực lao động ngày nay.
Với trung bình 20 năm kinh nghiệm làm việc, đạo đức công việc tốt, Gen X đã giữ hầu hết các vai trò lãnh đạo trong doanh nghiệp.
Vốn cảm thấy rất khó khăn trong việc dịch chuyển nấc thang doanh nghiệp khi Baby Boomers nới rộng quá trình nghỉ hưu của họ, nhiều người Gen X đã rời bỏ ông chủ của họ vào những năm 40 tuổi để bắt đầu sự nghiệp riêng, và họ đã trở thành những doanh nhân thành công.
3. Gen Y.

Là thế hệ thứ 3 sau Baby Boomers và Gen X, Gen Y là những người được sinh ra từ giữa những năm 1981 và 1996 – đã trở thành nhóm được bàn tán nhiều nhất trong một vài thập kỷ.
Đến độ tuổi trong một thiên niên kỷ mới (new milllennium), họ còn được biết đến với tên gọi rất thông dụng, Millennials.
Được sinh ra trong một thời kỳ bùng nổ dân số khác, hầu hết Gen Y là con cái của Baby Boomers.
Đó là lý do tại sao họ còn được biết đến với một cái tên khác nữa là thế hệ Echo Boomer. Nói chung, họ được giáo dục tốt hơn và đa dạng hơn về văn hoá so với các thế hệ cha anh.
Họ còn là thế hệ đầu tiên kết nối với cách sử dụng của các phương tiện truyền thông mạng xã hội (social media).
Không giống như Gen X, những người đầu tiên sử dụng internet tại nơi làm việc với các mục đích chuyên nghiệp cho doanh nghiệp, Gen Y đã học về internet ở một độ tuổi trẻ hơn nhiều. Do đó, ban đầu, Gen Y chủ yếu tận dụng các phương tiện truyền thông mạng xã hội và các công nghệ liên quan đến internet khác cho mục tiêu cá nhân.
Trên phương tiện truyền thông mạng xã hội, họ rất cởi mở để thể hiện bản thân họ và thường xuyên so sánh họ với các bạn đồng trang lứa của mình. Họ cảm thấy cần thiết để nhận được sự ủng hộ và chấp thuận từ những người này.
Kết quả tất yếu, họ bị ảnh hưởng một cách nặng nề bởi những gì mà những người bạn đồng trang lứa của họ đang nói và mua.
Họ tin tưởng những người này hơn cả những thương hiệu lâu đời. Gen Y nghiên cứu và mua hàng trực tuyến rất nhiều, chủ yếu trên thiết bị di động của họ.
Nhưng họ không mua những sản phẩm như cách các thế hệ cũ thường làm, vì họ thích sự trải nghiệm hơn là sở hữu. Họ không tập trung vào việc tích luỹ tài sản và sự giàu có, thay vào đó, họ sưu tầm những câu chuyện và gia vị của cuộc sống.
Vì họ được giáo dục cao hơn, đa dạng hơn, và tiếp xúc với nhiều thứ hơn, Gen Y thường cởi mở và duy tâm hơn.
Gen Y đặt câu hỏi cho tất cả mọi thứ, điều đã khiến họ dễ bị xung đột hơn với những thế hệ cũ tại nơi làm việc, những người vốn kỳ vọng họ sẽ luôn tuân theo những chuẩn mực cũ.
Giống như cha mẹ Baby Boomers của họ, Gen Y hay Millennials thường được phân loại thành 2 thế hệ phụ (sub-generation).
Những Gen Y đầu đời – những người được sinh ra từ những năm 1980 – gia nhập lượng lượng lao động trong khoảng thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 với nhiều hậu quả nghiêm trọng, và từ đó họ phải tồn tại trong một thị trường việc làm đầy khó khăn.
Một vài người trong số họ phải kết thúc sự nghiệp xây dựng doanh nghiệp riêng. Bởi vì những kinh nghiệm làm việc rất cạnh tranh, họ có xu hướng tách biệt rõ ràng giữa cuộc sống cá nhân và công việc.
Những Gen Y trẻ hơn – được sinh ra trong những năm 1990 – lại ở một khía cạnh khác, họ được trải nghiệm một thị trường việc làm thuận lợi hơn.
Họ có xu hướng hoà trộn giữa cuộc sống cá nhân và công việc. Nói một cách khác, họ chỉ muốn những việc làm mà họ thích – công việc sẽ được hoàn thành.
Thế hệ phụ đầu đời là một “thế hệ cầu nối” bởi vì họ học để thích nghi được với cả thế giới số lẫn thế giới thực tại – giống như Gen X trước đó.
Tuy nhiên, thế hệ phụ trẻ hơn, lại giống với Gen Z nhiều hơn. Bởi vì họ đã thích nghi internet ở một độ tuổi rất trẻ, họ xem thế giới số như là một sự mở rộng liền mạch của thế giới thực tại.
4. Gen Z là thế hệ cận hiện đại nhất sau Baby Boomers, Gen X và Gen Y.

Là một trong những thế hệ năng động nhất với thế giới internet, Gen Z được kỳ vọng là thế hệ của tương lai với nhiều sự thay đổi.
Vậy Gen Z hay Thế hệ Z (generation z) là gì?
Những người làm marketing hiện đang tập trung mọi sự chú ý tới Gen Z. Những người con của Gen X, Gen Z – còn được biết đến với tên gọi Centen-nials – là một nhóm người sinh giữa những năm 1997 và 2009.
Nhiều Gen Z đã chứng kiến những sự khó khăn về tài chính của bố mẹ và những người anh chị em ruột của họ, và từ đó họ có ý thức về tài chính tốt hơn Gen Y.
Họ có xu hướng tiết kiệm tiền và xem sự ổn định về kinh tế là một yếu tố thiết yếu trong sự lựa chọn nghề nghiệp của họ.
Được sinh ra khi internet đã thực sự phát triển, họ được xem là những người bản địa số đầu tiên của nhân loại.
Không có trải nghiệm của cuộc sống nếu thiếu internet, họ xem các công nghệ kỹ thuật số là một phần không thể thay thế trong cuộc sống hàng ngày của mình.
Họ luôn luôn kết nối internet thông qua các thiết bị số của họ để học tập, cập nhật tin tức, mua sắm, và cả kết nối với mọi người.
Họ tiêu thụ nội dung liên tục thông qua nhiều màn hình, ngay cả khi họ đang trong quá trình giao tiếp với những người khác. Kết quả tất yếu, họ hầu như không có biên giới giữa thế giới online và offline.
Được trao quyền bởi các phương tiện truyền thông mạng xã hội, Gen Z lưu lại cuộc sống hàng ngày của họ trên các phương tiện truyền thông mạng xã hội dưới hình thức là ảnh và video. Nhưng không giống như Gen Y, những người theo chủ nghĩa duy tâm, Gen Z khá thực dụng.
Trái ngược với Gen Y, những người thích đăng tải những hình ảnh tươm tất và chuyên nghiệp của họ như là cách để thể hiện thương hiệu cá nhân, Gen Z thích đăng những hình ảnh bình dị và miêu tả chân thực chính bản thân họ.
Từ đó, Gen Z ghét những thương hiệu truyền tải những hình ảnh được tô điểm quá nhiều và không đúng với sự thật.
Bởi vì thiện chí để chia sẻ các thông tin cá nhân đối với Gen Z là cao hơn so với các thế hệ khác, họ muốn các thương hiệu cũng có thể truyền tải những nội dung, khuyến mãi, và trải nghiệm khách hàng được cá nhân hoá hơn.
Họ cũng kỳ vọng các thương hiệu có thể cung cấp cho họ những khả năng để kiểm soát và tuỳ chỉnh cách họ tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ.
Bởi vì dung lượng tuyệt đối của những nội dung đang nhắm mục tiêu tới họ, Gen Z thực sự coi trọng sự tiện lợi của việc cá nhân hoá và các tuỳ chỉnh.
Cũng như Gen Y, Gen Z quan tâm nhiều đến sự thay đổi của xã hội và sự bền vững của môi trường. Bởi vì chủ nghĩa thực dụng của họ, Gen Z tự tin hơn trong vai trò của họ để thúc đẩy sự thay đổi thông qua các quyết định hàng ngày của họ.
Họ ưa thích các thương hiệu tập trung mạnh mẽ vào việc giải quyết các vấn đề về môi trường và xã hội. Họ tin tưởng rằng sự lựa chọn thương hiệu của họ buộc các doanh nghiệp phải cải thiện các hoạt động nhằm hướng tới sự bền vững.
Gen Z cũng thích việc tạo ra sự khác biệt thông qua các hoạt động tình nguyện và kỳ vọng các ông chủ của họ cung cấp các nền tảng cần thiết để điều đó được xảy ra.
Gen Z tìm kiếm sự gắn bó lâu dài thông qua các mối quan hệ với thương hiệu. Họ kỳ vọng các thương hiệu cũng tạo ra được sự kích thích giống như các thiết bị trò chơi và điện thoại di động của họ.
Do đó, họ hy vọng các doanh nghiệp luôn luôn làm mới các đề xuất hay chương trình của chính họ. Họ muốn các doanh nghiệp cung cấp những trải nghiệm khách hàng đầy sức hút mới tại tất cả các điểm chạm trong hành trình khách hàng.
Các doanh nghiệp thất bại trong việc đáp ứng những sự kỳ vọng này của họ thường nhận được một kết quả tất yếu là sự trung thành thương hiệu thấp. Các doanh nghiệp nhắm mục tiêu đến Gen Z phải đối phó được với các chu kì sống của sản phẩm bị rút ngắn này.
Ngày nay, Gen Z đã đông hơn Gen Y và trở thành thế hệ đông nhất toàn cầu. Tới năm 2025, họ sẽ là lực lượng lao động chính và do vậy họ trở thành thị trường trọng yếu cho các sản phẩm và dịch vụ.
Sau khi tìm hiểu cụ thể về Gen Z, một câu hỏi được nhiều người đặt ra là “sau gen z là gen gì“, câu trả lời đó chính là Gen Alpha, bên dưới là những gì bạn cần hiểu về Gen Alpha.
5. Gen Alpha.
Gen Alpha bao gồm những người sinh từ năm 2010 đến 2025, điều này khiến họ trở thành những đứa con đầu đời của thế kỷ 21.
Được đặt ra bởi Mark McCrindle, tên chữ cái được đặt theo tiếng Hy Lạp biểu thị một thế hệ mới hoàn toàn, thế hệ được định hình bởi sự hội tụ của các yếu tố công nghệ.
Họ không chỉ là những người bản địa số (digital natives), mà còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi các hành vi số (digital behaviors) của bố mẹ của họ (Gen Y) và anh chị của họ (Gen Z). Như một điều phù hợp, sự ra mắt của chiếc iPad đầu tiên – thiết bị mà hầu hết những đứa trẻ đều bị dính vào – đánh dấu sự nổi lên của thế hệ này vào năm 2010.
Tính cách của Gen Alpha bị định hình và ảnh hưởng rất nhiều bởi phong cách nuôi dưỡng của bố mẹ Gen Y của họ. Kết hôn ở một độ tuổi lớn hơn, Gen Y rất quan tâm đến việc nuôi dưỡng và giáo dục của con cái.
Họ còn dạy con cái của họ về tiền bạc và tài chính từ rất sớm. Thêm vào đó, họ đã phát triển con cái của họ trong một môi trường đô thị rất đa dạng và thay đổi nhanh.
Từ đó, Gen Alpha không chỉ được giáo dục tốt và thuần thục về công nghệ mà còn toàn diện và mang đậm yếu tố xã hội.
Được nuôi nấng bởi Gen Y và ảnh hưởng bởi Gen Z, Gen Alpha đã tiêu thụ nội dung trên các thiết bị di động từ thời con thơ bé. Sử dụng thời gian trên màn hình nhiều hơn tương đối so với các thế hệ trước đó.
Gen Alpha xem video trực tuyến và chơi game trên các thiết bị di động hàng ngày. Một vài người trong số họ còn có kênh YouTube và tài khoản Instagram riêng – được xây dựng và quản lý bởi bố mẹ của họ.
Gen Alpha khá cởi mở với các nội dung có thương hiệu (branded content), chẳng hạn như các kênh đánh giá sản phẩm trên YouTube. Phong cách học tập của họ mang đậm yếu tố thực hành và thử nghiệm.
Họ rất thoải mái khi vui chơi với các đồ công nghệ, các thiết bị thông minh, và các đồ vật có thể đeo được.
Họ xem công nghệ không chỉ là một phần liên đới của cuộc sống của họ mà còn là sự mở rộng của chính bản thân họ.
Gen Alpha sẽ tiếp tục lớn lên, thích nghi và sử dụng các công nghệ bắt chước con người chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo, điều khiển bằng giọng nói, và cả robots.
Ngày nay, Gen Alpha chưa có được động lực chi tiêu mạnh mẽ, nhưng họ có một sự ảnh hưởng lớn trên cách chi tiêu của những người khác.
Nghiên cứu của Google tiết lộ rằng 74% bố mẹ Gen Y coi trọng ý kiến của những đứa con Gen Alpha trong các quyết định mua hàng trong gia đình.
Thêm vào đó, một vài đứa con của Gen Y cũng đã trở thành những người có ảnh hưởng trên các phương tiện truyền thông mạng xã hội (social media influencers), những người đóng vai trò là hình mẫu cho những đứa trẻ khác.
Theo một báo cáo của Wunderman Thompson Commerce cho thấy rằng 55% những đứa trẻ tại Mỹ và Vương Quốc Anh thích mua sắm những thứ mà những người có ảnh hưởng của họ sử dụng. Từ đây, chỉ còn là vấn đề thời gian để họ trở thành trọng tâm của những người làm marketing toàn cầu.
Ver2Solution
Tư duy đúng, giá trị thật
Tâm Lý Học NTD
Gen Z và xu hướng Quiet Luxury: Khi sự giàu có là không phô trương
Không logo lớn, không khoe mẽ trên mạng xã hội, Quiet luxury đang trở thành lựa chọn của giới giàu và đặc biệt là thế hệ Gen Z trong kỷ nguyên công nghệ.
Trong một thế giới nơi mạng xã hội khuyến khích con người khoe mọi thứ, từ bữa ăn, chuyến du lịch cho tới tài sản cá nhân, thì sự im lặng lại bất ngờ trở thành một dạng “xa xỉ” mới. Quiet luxury, hay xa xỉ thầm lặng, không còn là khái niệm chỉ gắn với giới thượng lưu truyền thống, mà đang dần trở thành một xu hướng được Gen Z đón nhận mạnh mẽ, đặc biệt ở các đô thị lớn và cộng đồng sáng tạo.
Khác với hình ảnh xa xỉ phô trương từng thống trị nhiều năm trước, Quiet luxury không tìm cách gây chú ý. Nó thể hiện qua chất liệu tốt, thiết kế bền bỉ, màu sắc trung tính và những chi tiết tinh tế chỉ người hiểu mới nhận ra. Một chiếc áo len cashmere trơn, một chiếc áo khoác dáng cổ điển hay một chiếc túi da không logo có thể trông “bình thường” trên ảnh mạng xã hội, nhưng lại mang giá trị rất khác trong đời sống thật.
Điều đáng chú ý là chính Gen Z, thế hệ lớn lên cùng mạng xã hội, lại là nhóm bắt đầu quay lưng với việc khoe khoang quá mức. Sau giai đoạn “flex culture” bùng nổ, nhiều người trẻ nhận ra áp lực so sánh, rủi ro về riêng tư và sự mệt mỏi khi phải liên tục chứng minh bản thân. Quiet luxury vì thế trở thành lựa chọn ngược dòng: ít nói, ít phô trương, nhưng sâu sắc và có chủ đích.
Tinh thần này cũng phản chiếu rõ trong cách Gen Z tiếp cận công nghệ. Những sản phẩm được yêu thích nhất hiện nay thường không quá hào nhoáng về hình thức, mà tập trung vào trải nghiệm, độ ổn định và tính riêng tư. Quyền lực không còn nằm ở việc “nhìn là biết đắt”, mà ở việc dùng lâu, dùng tốt và không bị phụ thuộc vào ánh nhìn của người khác.
Hình ảnh “thẻ đen” ngân hàng là một ẩn dụ thú vị cho Quiet luxury. Không nhiều người từng thấy, càng ít người biết điều kiện để sở hữu, nhưng nó đại diện cho một tầng quyền lực không cần quảng cáo. Chủ nhân của nó hiếm khi rút ra để gây chú ý, nhưng khi cần, những đặc quyền phía sau là điều không phải ai cũng chạm tới. Với Gen Z có định hướng tài chính rõ ràng, đây là kiểu quyền lực hấp dẫn hơn việc khoe giàu tức thì.
Trong bối cảnh dữ liệu cá nhân ngày càng có giá trị, việc sống kín đáo cũng trở thành một chiến lược. Nhiều người trẻ hạn chế chia sẻ vị trí, không công khai tài sản, không biến đời sống cá nhân thành nội dung. Giống như cách họ chọn quần áo không logo, họ cũng chọn một cuộc sống “ít ồn” để giữ an toàn và tự do cho chính mình.
Quiet luxury còn phản ánh sự thay đổi trong tư duy tiêu dùng của Gen Z. Thay vì mua nhiều theo trào lưu, họ mua ít hơn, chọn kỹ hơn, ưu tiên độ bền và giá trị lâu dài. Điều này rất giống với cách các công ty công nghệ lớn đầu tư vào nền tảng cốt lõi thay vì chạy theo xu hướng ngắn hạn. Sự ổn định và khả năng đi đường dài mới là thứ đáng giá
Sau cùng, Quiet luxury không phải là lời khẳng định “tôi giàu”, mà là một tuyên ngôn sống: không cần phải chứng minh quá nhiều với thế giới. Khi đã hiểu mình là ai và cần gì, con người ta có xu hướng im lặng hơn, chọn lọc hơn và vững vàng hơn.
Và có lẽ, trong kỷ nguyên số đầy tiếng ồn, sự im lặng có chủ đích chính là biểu hiện rõ ràng nhất của quyền lực, đặc biệt với thế hệ Gen Z.
Tâm Lý Học NTD
Gen Z Việt Nam và cuộc đua “giàu nhanh”: áp lực tài chính, so sánh xã hội và cách họ tự cứu mình
Thế hệ Gen Z Việt Nam đang sống giữa kỳ vọng thành công sớm, chi phí sinh hoạt leo thang và mạng xã hội khuếch đại hình mẫu giàu có. Áp lực “phải giàu nhanh” không chỉ là câu chuyện tâm lý mà còn là bài toán tài chính, nghề nghiệp và cách mỗi người chọn đối phó.
Nếu Millennials lớn lên cùng lời khuyên “ổn định rồi tính”, Gen Z lại trưởng thành trong thời kỳ kinh tế biến động nhanh, giá tài sản tăng mạnh và mạng xã hội đẩy chuẩn mực thành công lên cao hơn bao giờ hết. Với Gen Z, thành công không chỉ là có việc làm tốt mà còn phải tích lũy tài sản sớm, phát triển nhiều nguồn thu nhập và thể hiện được phong cách sống đáng mơ ước. Trong bối cảnh này, áp lực “phải giàu nhanh” trở thành cảm nhận chung, vừa đến từ thực tế vừa đến từ so sánh xã hội liên tục.
Áp lực tài chính lẫn kỳ vọng xã hội đang siết Gen Z
Áp lực giàu nhanh trước hết xuất phát từ thực tế kinh tế nhiều thách thức. Giá nhà, xe, dịch vụ và tiêu dùng đều tăng nhanh hơn tốc độ thu nhập trung bình của lao động trẻ. Các khảo sát gần đây tại thị trường Việt Nam cho thấy Gen Z nằm trong nhóm kém an toàn về tài chính, với tỷ lệ cảm nhận bất ổn cao hơn các thế hệ trước. Nhiều người trẻ thú nhận họ cảm thấy khó lập kế hoạch dài hạn khi chi phí sinh hoạt đã chiếm phần lớn thu nhập.
Một sinh viên mới ra trường chia sẻ: “Em không đặt mục tiêu mua nhà ngay, nhưng mọi người xung quanh đều nói nếu không cố thì sau này càng khó. Tự nhiên em thấy bị chậm hơn so với bạn bè, dù mới đi làm được một năm.” Câu chuyện này không hiếm, khi kỳ vọng tự lập tài chính trước tuổi 30 xuất hiện ngày càng phổ biến, tạo ra một chuẩn mực mới mà thế hệ trước không phải đối mặt.
Bên cạnh yếu tố kinh tế, mạng xã hội là chất xúc tác mạnh mẽ. Hình ảnh người trẻ thành công sớm, sở hữu lifestyle cao cấp, du lịch nhiều và có thu nhập từ nhiều nguồn đã trở thành thước đo mặc định trên TikTok và Instagram. Ở chiều ngược lại, những người chưa đạt được thành tựu có xu hướng tự so sánh, dẫn đến FOMO và cảm giác “phải làm nhiều hơn nữa để không bị bỏ lại phía sau”. Một kỹ sư Gen Z bộc bạch: “Không ai bắt em giàu nhanh cả, nhưng nhìn người ta thành công thì em cảm giác mình đang lãng phí thời gian.”
Tuy nhiên, áp lực giàu nhanh không chỉ là ảo tưởng. Gen Z cũng là thế hệ có tiếp cận tài chính và đầu tư sớm hơn, thể hiện qua việc tiết kiệm, đầu tư, làm thêm và khai thác nguồn thu nhập mới từ công nghệ, thương mại điện tử hay sáng tạo nội dung. Đây vừa là phản ứng với bối cảnh kinh tế, vừa là cách họ tìm hướng đi dài hơi. Điều này cho thấy áp lực không chỉ đến từ việc muốn hơn người khác, mà còn đến từ nỗi lo không đủ để sống tốt trong tương lai.
Từ chật vật đến chủ động: Gen Z đang tự định nghĩa lại con đường làm giàu
Dù phải đối mặt với nhiều bất lợi, thế hệ Gen Z không hoàn toàn bị động. Nhiều khảo sát cho thấy họ bắt đầu tiết kiệm từ rất sớm, lên kế hoạch tài chính cá nhân và tham gia đầu tư phổ thông như gửi tiết kiệm, chứng khoán, tài sản số hay khởi nghiệp nhỏ. Với Gen Z, tự do tài chính không chỉ là con số mà còn là khả năng lựa chọn và kiểm soát cuộc sống.
Một bạn nữ 24 tuổi làm sáng tạo nội dung cho biết: “Em không muốn giàu nhanh theo kiểu may rủi. Em muốn có tiền đủ để không phụ thuộc ai, có thể nghỉ vài tháng để học cái mới mà không lo nợ.” Đây là góc nhìn cho thấy sự dịch chuyển giá trị, khi mục tiêu không chỉ là giàu mà là tự do và linh hoạt.
Song song với sự chủ động, Gen Z cũng đối mặt với những giới hạn riêng. Nhiều người chưa có kiến thức tài chính đủ vững nhưng vẫn tham gia thị trường đầu tư vì sợ bỏ lỡ cơ hội. Một số bị cuốn vào giao dịch nhanh, đầu tư nóng và kỳ vọng lợi nhuận cao trong thời gian ngắn. Khi thất bại, họ lại rơi vào vòng lặp so sánh và mất tự tin. Áp lực giàu nhanh vì thế trở thành con dao hai lưỡi, vừa thúc đẩy học hỏi vừa dễ tạo ra sự bào mòn tâm lý.
Về lâu dài, cách Gen Z đối phó với áp lực này sẽ góp phần định hình lại quan niệm về giàu có. Thay vì mô hình truyền thống “đi làm – thăng chức – mua nhà”, nhiều người chọn sự đa dạng trong nguồn thu, ưu tiên cân bằng và trải nghiệm, chấp nhận thay đổi nghề nghiệp và học kỹ năng mới. Con đường giàu có vì vậy không còn là một lộ trình tuyến tính mà linh hoạt hơn, rủi ro hơn nhưng cũng mở rộng hơn.
Áp lực phải giàu nhanh phản ánh sự giao thoa giữa kỳ vọng xã hội, thực tế kinh tế và tâm lý thế hệ trong thời kỳ chuyển đổi. Với Gen Z Việt Nam, đó vừa là thách thức vừa là động lực. Họ có thể chưa sở hữu nhiều tài sản, nhưng lại sở hữu sự nhạy bén, tốc độ thích ứng và tư duy tài chính sớm hơn. Cách họ lựa chọn cân bằng giữa tham vọng và khả năng sẽ định nghĩa lại tiêu chuẩn thành công trong thập kỷ tới.
Tâm Lý Học NTD
1,4 triệu thanh niên ba không
Ba tháng cuối năm 2025, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên trong tình trạng ba không: không việc làm, không học tập, không tham gia đào tạo nghề, chiếm 10% tổng số thanh niên.
Theo báo cáo tình hình lao động, việc làm quý 4 năm nay của Cục Thống kê, số thanh thiếu niên (tuổi 15-24) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo giảm 169.000 người so với quý trước nhưng tăng 124.000 người so với cùng kỳ năm 2024.
Tỷ lệ thanh niên “ba không” ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị, lần lượt là 11,7% và 8%. Nữ thanh niên chiếm tỷ lệ cao hơn nam, ở mức 12% so với 8,3%.
Cục Thống kê cho biết tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên độ tuổi 15-24 trong quý tư 2025 ở mức 9%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước, đồng thời tăng so với quý ba 2025 và cùng kỳ năm trước. Riêng khu vực thành thị, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên vượt 11%.
Theo cơ quan thống kê, tỷ lệ thất nghiệp và số thanh niên “ba không” duy trì ở mức cao phản ánh những khó khăn của người trẻ trong quá trình tìm kiếm việc làm. Do đó, cơ quan chức năng cần chú trọng phân luồng sớm, định hướng học tập và nghề nghiệp phù hợp năng lực cá nhân, đồng thời tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Nhìn ra các nước trong khu vực, tỷ lệ này ở mức tương đương hoặc thấp hơn.
Tại Thái Lan, tỷ lệ “ba không” (NEET) của thanh niên dao động trong khoảng 12,8–15% theo số liệu thống kê năm 2024 của WorldBank và UNICEF. Tại Indonesia, con số lên tới 17–18%, đưa nước này vào nhóm các nước Đông Nam Á có tỷ lệ thanh niên “ba không” cao nhất. Philippines cũng có tỷ lệ NEET 12–13%, tập trung chủ yếu vào nhóm thanh niên ở khu vực đô thị nghèo.
Tại Trung Quốc, nguyên nhân hình thành NEET lại tương đối đặc thù. Theo ILO, tỷ lệ ba không của thanh niên Trung Quốc gần đây dao động khoảng 15–17%, cao hơn Việt Nam nhưng thấp hơn mức trung bình toàn cầu.
Tính chung ở các độ tuổi, quý tư 2025 cả nước ta ghi nhận 2,14 triệu người, tương đương 4% lực lượng lao động, không được sử dụng hết tiềm năng. Tỷ lệ này ở thành thị là 3,8% và nông thôn hơn 4%. Nhóm này gồm người thất nghiệp, thiếu việc làm và ngoài lực lượng lao động nhưng sẵn sàng làm việc.
Cục Thống kê nhận định trong điều kiện kinh tế bình thường, lực lượng lao động không được sử dụng hết tiềm năng luôn tồn tại và thường tăng khi nền kinh tế chịu các cú sốc lớn. Thực tế, tỷ lệ này tăng mạnh từ quý I/2020, đạt đỉnh vào quý III/2021, sau đó giảm dần và dao động quanh mức 4%.
Nhìn chung, thị trường lao động quý IV/2025 cơ bản ổn định song vẫn xuất hiện một số dấu hiệu cần theo dõi khi số người thiếu việc làm tăng nhẹ. Cụ thể, khoảng 784.000 người thiếu việc làm, tăng 88.000 so với quý III/2025 và hơn 19.000 người so với cùng kỳ năm 2024.
Ver2Solution theo VNexpress
-
Trong Nước10 tháng agoBáo cáo thị trường nước hoa Việt Nam 2023-2025
-
Trong Nước9 tháng agoBáo cáo thị trường trang sức Việt Nam 2023-2025
-
Các Nền Tảng MXH9 tháng agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (18/5-24/5/2025)
-
Livestream10 tháng agoKhi ông chủ buộc phải livestream bán hàng
-
Công Nghệ Phần Mềm9 tháng agoSEEDANCE 1.0 CỦA BYTEDANCE ĐỐI ĐẦU VỚI GOOGLE VEO 3
-
Các Nền Tảng MXH10 tháng agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (4/5-10/5/2025)
-
Livestream8 tháng agoTài liệu nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm ngẫu hứng của người tiêu dùng
-
Các Nền Tảng MXH10 tháng agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (11/5-17/5/2025)





