Connect with us

Công Nghệ Phần Cứng

Nvidia, Microsoft, Google phải xếp hàng chờ đợi một hãng vô danh Nhật Bản ẩn mình suốt 100 năm

Published

on

Quyền lực của hãng vô danh Nhật Bản này lớn đến mức khiến các giám đốc Nvidia, Microsoft hay Google cũng phải xếp hàng để chờ cái gật đầu đồng ý từ một hãng vô danh Nhật Bản ẩn mình suốt 100 năm.

Trong bối cảnh cuộc đua AI toàn cầu đang nóng hơn bao giờ hết, những gã khổng lồ công nghệ như Nvidia, AMD, Microsoft, Google và Amazon đang đổ xô đến Nhật Bản, không phải để tìm kiếm những con chip tiên tiến nhất, mà là để đảm bảo nguồn cung một thành phần ít được biết đến nhưng vô cùng quan trọng: vải thủy tinh cao cấp (highest-end glass cloth) để cung ứng cho các máy chủ trí thông minh nhân tạo (AI).

Trung tâm của cuộc hành hương này chính là một cái tên mà có lẽ ít người biết đến bên ngoài giới công nghiệp: Nitto Boseki (Nittobo), hãng gần như duy nhất trên thế giới đáp ứng được tiêu chuẩn sản phẩm này với dòng “T-glass”.

Vậy là Nittobo, công ty vô danh Nhật Bản với lịch sử hơn một thế kỷ ẩn mình, đang âm thầm nắm giữ một vị trí then chốt, thậm chí là độc quyền, trong chuỗi cung ứng AI.

Vai trò của họ quan trọng đến mức, sự thiếu hụt T-glass đang trở thành một “nút thắt cổ chai” nghiêm trọng, buộc các CEO và quản lý cấp cao từ những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới phải trực tiếp đến Tokyo, tìm mọi cách để có được nguồn cung vật liệu này.

Không riêng gì các ông lớn Big Tech, ngay cả những hãng công nghệ trong ngành AI như Unimicron, AT&S và Kinsus Interconnect Technology cũng phải xếp hàng chờ đợi cái gật đầu của Nittobo.

“Bạn không thể chỉ đến Nittobo với nhiều tiền mặt trong tay và đòi mua thêm”, một giám đốc điều hành của Kinsus, nhà cung cấp cho Nvidia và AMD, cho biết quota sản lượng của Nittobo cho khách hàng thường cố định cho đến khi họ xây thêm nhà máy mới và tăng sản lượng.

Các giám đốc điều hành trong ngành nói với tờ Nikkei Asian Review rằng Nittobo đã không lường trước được nhu cầu từ Nvidia sẽ tăng mạnh như thế nào trong những năm gần đây.

“Họ đang sản xuất sợi thủy tinh cho nhiều ngành công nghiệp, từ y tế và xây dựng đến ô tô, máy tính và các ứng dụng điện thoại thông minh”, một giám đốc điều hành của một nhà sản xuất bảng mạch in cho biết. “Máy chủ chỉ là một trong những ứng dụng đó”.

Mạch máu vô hình của AI

Vậy T-glass là gì mà lại có sức ảnh hưởng lớn đến vậy? Về mặt kỹ thuật, nó là loại kính có hệ số giãn nở nhiệt thấp (low-coefficient-of-thermal-expansion – CTE), được Nittobo và ngành công nghiệp gọi tắt là “T-glass”.

Loại vật liệu này cực kỳ quan trọng trong việc sản xuất chất nền chip (chip substrate) và bảng mạch in (printed circuit board – PCB) cao cấp, những thành phần không thể thiếu để tạo ra các máy chủ AI mạnh mẽ.

Giá trị của T-glass nằm ở những đặc tính vượt trội của nó: độ ổn định kích thước cao, độ cứng vượt trội và khả năng truyền dữ liệu tốc độ cao.

Trong thế giới của chip AI, nơi mà từng nanomet đều quan trọng, độ cứng của T-glass giúp ngăn chặn sự cong vênh của chất nền trong quá trình đóng gói chip tiên tiến – một yếu tố then chốt quyết định năng suất và hiệu quả sản xuất của chip AI.

Hãng vô danh Nhật Bản ẩn mình suốt 100 năm, giờ đây khiến Nvidia, Microsoft, Google phải xếp hàng chờ đợi, có tiền tỷ cũng phải cúi đầu- Ảnh 2.

Doanh số và lợi nhuận của Nittobo (Tỷ Yên) tăng mạnh nhờ AI

Điều đáng nói là Nittobo hiện là nhà cung cấp duy nhất trên thế giới về loại vải thủy tinh T-glass cao cấp nhất này. Vị trí độc quyền này đã biến một công ty vốn “vô danh” với công chúng trở thành một “người gác cổng” thầm lặng nhưng đầy quyền lực trong cuộc cách mạng AI.

Ban đầu, Nittobo cung cấp T-glass cho các nhà sản xuất vật liệu như Resonac và Mitsubishi Gas Chemical, cả hai đều đến từ Nhật Bản, sử dụng nó để sản xuất tấm phủ đồng (CCL). Sau đó, CCL được các nhà sản xuất chất nền chip và bảng mạch in như Ibiden và Unimicron sử dụng để sản xuất chất nền chip cao cấp, sau đó được sử dụng để gắn và đóng gói chip AI từ Nvidia và các công ty khác.

Vật liệu sợi thủy tinh cao cấp cũng rất cần thiết cho chip bộ nhớ và bộ xử lý cao cấp.

“Phần lớn công suất vải thủy tinh cao cấp của Nittobo đã được Nvidia, Microsoft, Google và Amazon đặt trước cho năm nay. Tất cả những nhà sản xuất trung tâm dữ liệu AI này đều nhận ra sợi thủy tinh quan trọng đến mức nào, vì vậy họ đã bỏ qua nhiều tầng trong chuỗi cung ứng để đảm bảo nguồn cung vật liệu”, một giám đốc điều hành từ một nhà sản xuất PCB tiết lộ.

Sự phụ thuộc này giải thích tại sao các nhà cung cấp chất nền chip và PCB lớn như Unimicron, AT&S, Kinsus Interconnect Technology cũng phải tìm đến Nittobo, trong nỗ lực tuyệt vọng để có thêm T-glass.

Tình hình khan hiếm vật liệu đã bắt đầu từ nửa cuối năm ngoái và dự kiến sẽ tiếp diễn đến năm sau, gây áp lực lớn lên toàn bộ chuỗi cung ứng chip AI.

Do là nhà cung cấp độc quyền T-glass cao cấp, Nittobo trở thành một “nút thắt cổ chai” trong chuỗi cung ứng AI toàn cầu. Nhu cầu khổng lồ từ các ông lớn công nghệ như Nvidia, AMD, Microsoft, Google, Amazon đã khiến công suất của Nittobo bị đặt kín, gây ra tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng cho các nhà sản xuất chất nền chip và PCB khác.

Hãng vô danh Nhật Bản ẩn mình suốt 100 năm, giờ đây khiến Nvidia, Microsoft, Google phải xếp hàng chờ đợi, có tiền tỷ cũng phải cúi đầu- Ảnh 3.

Trước nhu cầu tăng vọt, Nittobo đã cam kết đầu tư 80 tỷ yên (khoảng 550 triệu USD) để mở rộng sản xuất vật liệu bán dẫn, bao gồm T-glass, tại Nhật Bản và Đài Loan. Mục tiêu là tăng gấp đôi công suất tại Đài Loan vào tháng 3/2028.

Tuy nhiên, Giám đốc điều hành Hiroyuki Tada vẫn rất thận trọng: “Chúng tôi đang làm mọi thứ có thể để tránh gây bất tiện cho khách hàng. Nhưng đây không phải là tình huống mà chúng tôi có thể đưa ra những lời hứa lớn về việc tăng công suất. Ngay bây giờ, chúng tôi đang hoạt động hết công suất, vận chuyển mọi thứ có thể.”

Sự thận trọng này xuất phát từ kinh nghiệm đau thương của Nittobo về sự biến động của thị trường điện tử.

Công ty đã từng chứng kiến nhu cầu đột ngột bốc hơi trong quá khứ, khiến họ ngần ngại đầu tư quá nhanh vào việc mở rộng công suất lớn.

Đây là một tư duy phổ biến ở nhiều nhà sản xuất vật liệu Nhật Bản, những người thường ưu tiên tăng trưởng ổn định và bền vững hơn là theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn trong một thị trường đầy biến động.

Cạnh tranh

Vị trí độc quyền của Nittobo, dù mang lại lợi nhuận cao (biên lợi nhuận của họ đã tăng vọt lên 15,1% nhờ AI), cũng đang khuyến khích sự cạnh tranh.

Các đối thủ như Taiwan Glass và một số nhà cung cấp Trung Quốc đang tích cực tìm cách thâm nhập vào thị trường T-glass cao cấp. Taiwan Glass tuyên bố sẽ sẵn sàng cung cấp sản phẩm vào cuối năm 2025, sớm hơn đáng kể so với thời gian Nittobo cần để xây dựng nhà máy mới.

Tuy nhiên, việc thay thế Nittobo không phải là chuyện ngày một ngày hai. Chủ tịch T.J. Tseng của Unimicron, một trong hai nhà cung cấp chất nền cao cấp cho chip AI của Nvidia, nhận định rằng T-glass cao cấp không phải là thứ mà mọi công ty có thể sản xuất chỉ sau một đêm.

“Mặc dù có những người chơi mới từ Trung Quốc nhưng vải thủy tinh cao cấp không phải là thứ có thể sản xuất thành công ngay được. Các công ty mới phải trải qua một quá trình học hỏi khá gập ghềnh và nhiều trục trặc trước khi có thể cung cấp các sản phẩm ổn định và chất lượng cao đáp ứng các thông số kỹ thuật khắt khe, và điều đó cần thời gian,” ông Tseng giải thích.

Ngay cả khi đã có sản phẩm mới thay thế thì quá trình kiểm định cực kỳ nghiêm ngặt và mất thời gian, bởi sản phẩm phải qua được 3 vòng bởi các nhà sản xuất vật liệu, chất nền chip và cuối cùng là các nhà sản xuất chip như Nvidia.

Bản thân Nittobo cũng tốn rất nhiều năm mới phát triển và hoàn thiện được kỹ thuật này. Được thành lập vào năm 1923, với nguồn gốc từ các công ty dệt may từ cuối thế kỷ 19, Nittobo có sự bền vững và khả năng thích nghi qua nhiều thập kỷ.

Hãng vô danh Nhật Bản ẩn mình suốt 100 năm, giờ đây khiến Nvidia, Microsoft, Google phải xếp hàng chờ đợi, có tiền tỷ cũng phải cúi đầu- Ảnh 4.

Nhật Bản là quê hương của nhiều hãng vô danh nhưng quan trọng trong chuỗi cung ứng công nghệ

Hãng là công ty tiên phong trong sản xuất sợi thủy tinh công nghiệp tại Nhật Bản. Ngay từ năm 1938, họ đã thành công trong sản xuất sợi thủy tinh công nghiệp, gần như cùng thời điểm với các nhà sản xuất lớn ở Mỹ. Điều này cho thấy năng lực nghiên cứu và phát triển vượt trội từ rất sớm.

Tờ Nikkei nhận định Nittobo là lời nhắc nhở mới nhất về cách mà các nhà sản xuất vật liệu có vẻ như không được biết đến hỗ trợ toàn bộ chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu.

Nhật Bản là quê hương của nhiều nhà sản xuất như vậy: Phim tích hợp Ajinomoto (ABF) độc quyền của Ajinomoto là cần thiết trong mọi chất nền chip cao cấp dành cho bộ xử lý AI mạnh mẽ; chất cản quang cao cấp của Shin-Etsu và JSR rất quan trọng đối với sản xuất chip tiên tiến; và CCL tiên tiến của Resonac được sử dụng trong tất cả các máy chủ cao cấp. Về thiết bị, Advantest nắm giữ thị phần lớn trong số các máy thử nghiệm được sử dụng cho chip AI và chip bộ nhớ băng thông cao.

Nittobo đã ghi nhận doanh số 109 tỷ Yên trong năm tài chính trước, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước. Biên lợi nhuận của công ty tăng vọt từ 9% lên 15,1%, chủ yếu là do nhu cầu về các ứng dụng AI.

Về mặt doanh thu, công ty này nhỏ hơn đáng kể so với các nhà sản xuất vật liệu chip nổi tiếng khác của Nhật Bản, như Shin-Etsu Chemical và JSR, nhưng tầm quan trọng của công ty trong chuỗi cung ứng là không thể phủ nhận.

Tóm lại, Nittobo là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về cách mà những nhà sản xuất vật liệu tưởng chừng như “vô danh” lại có thể là xương sống của toàn bộ chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu.

Trong cuộc cách mạng AI, khi mà nhu cầu về sức mạnh tính toán tăng vọt, vai trò của những mắt xích thầm lặng như Nittobo trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, định hình không chỉ tương lai của ngành AI mà còn cả cách thức các gã khổng lồ công nghệ vận hành và phát triển.

Nguồn Nikkei, Fotune, BI

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Công Nghệ Phần Cứng

Đến lượt robot trong các nhà máy Trung Quốc cũng thất nghiệp

Published

on

Gần đây trên mạng xuất hiện các video quay thực tế tại các nhà máy: Những robot công nghiệp từng được các ông chủ đua nhau vung tiền rước về, vốn được mệnh danh là “không biết mệt mỏi”, giờ đây lại đồng loạt phủ bạt chống bụi nằm nơi góc xưởng. Từ “con cưng” công nghệ trở thành đồ trang trí trong xưởng.

Vài năm trước, chẳng ai hình dung nổi những robot công nghiệp tối ưu hiệu suất đến thế lại có ngày… không có việc để làm.

Những năm qua, giới công nghiệp ồ ạt chạy đua xây dựng “nhà máy không đèn”, tự động hóa toàn phần vì sợ chậm chân sẽ thua trong cuộc cạnh tranh. Điều này cũng biến Trung Quốc thành quốc gia có lượng robot công nghiệp được lắp đặt lớn nhất thế giới.

Trong số 520.000 robot công nghiệp mới được đưa vào hoạt động trên toàn cầu những năm gần đây, có tới 290.000 robot triển khai trong các nhà máy Trung Quốc – từ dây chuyền lắp ráp ô tô đến các xưởng cơ khí, cơ sở chế biến thực phẩm ở cấp huyện. Tốc độ phủ sóng của robot vượt xa hình dung của mọi người.

Nhưng hiện tại, cứ 4 dây chuyền sản xuất của robot thì có 1 dây chuyền đắp chiếu hoặc hoạt động cầm chừng; cứ 10 thiết bị robot công nghiệp thì có 3 thiết bị đang phải luân phiên “nghỉ phép dài hạn”.

Những nhà máy từng đông đúc nhộn nhịp, nay trống trải thấy rõ bằng mắt thường. Nhiều doanh nghiệp từng nghĩ rằng chỉ cần sa thải công nhân – những người đòi nghỉ phép và bắt đóng bảo hiểm xã hội – để thay bằng dàn robot làm việc không biết mệt mỏi là có thể hạ chi phí, tăng gấp bội lợi nhuận. Họ chỉ tính toán chi li cho doanh nghiệp mình mà bỏ quên mất một bài toán tổng thể của toàn xã hội.

day-chuyen.jpg
Một phần tư số dây chuyền tự động do robot đảm trách đã bị đắp chiếu. Ảnh: NetEase.

Những hệ quả kiểu “boomerang”

Khi nhu cầu tiêu thụ hàng hóa hạ nhiệt, hàng loạt dây chuyền robot đắt tiền bị ngưng trệ, phủ bụi vì nhà máy phải giảm sản lượng. Để giải tỏa áp lực dư thừa và cuộc chiến giá khốc liệt trong nước, các doanh nghiệp robot Trung Quốc đẩy mạnh bán phá giá ra nước ngoài, gây sức ép cực lớn lên ngành sản xuất thiết bị tự động hóa truyền thống của Nhật Bản và Châu Âu.

Nhằm thoát khỏi đầm lầy giá rẻ của robot công nghiệp truyền thống, Trung Quốc đang đổ hàng chục tỷ USD hỗ trợ đưa AI và robot hình người vào sản xuất thực tế nhằm tìm kiếm động lực tăng trưởng mới, dẫn tới thúc đẩy chuyển dịch sang robot hình người & AI:

Việc tự động hóa ồ ạt giúp tối ưu chi phí cho chủ xưởng nhưng lại đẩy hàng triệu lao động phổ thông vào cảnh mất việc hoặc suy giảm thu nhập. Điều này tạo ra phản ứng ngược: công nhân mất việc dẫn đến thắt chặt chi tiêu, kéo giảm cầu tiêu dùng toàn xã hội, khiến chính các hàng hóa do robot sản xuất ra rơi vào cảnh ế ẩm.

Mỗi công nhân bị sa thải, ở trong nhà máy họ là khoản chi phí tiền lương, nhưng khi bước ra khỏi cổng, họ lại là lực lượng tiêu dùng chủ lực bỏ tiền thật ra mua hàng.

Dữ liệu theo dõi dài hạn của kinh tế học Mỹ chỉ ra rằng: Cứ lắp thêm 1 robot trong hệ thống công nghiệp, xã hội sẽ mất đi từ 3 đến 4 việc làm truyền thống. Khi ngày càng nhiều người mất thu nhập ổn định và lo ngại về tương lai, việc đầu tiên họ làm là thắt chặt chi tiêu. Ăn nhà hàng đổi thành tự nấu ở nhà; điện thoại chưa hỏng hẳn thì không thay mới; kế hoạch mua nhà, mua xe vốn dự định từ trước cũng bị gác lại.

Khi hàng triệu, hàng chục triệu người đồng loạt cắt giảm chi tiêu, sức sống tiêu dùng trên thị trường bán lẻ sẽ nhanh chóng bị hút cạn. Máy móc có thể tạo ra hàng hóa chất cao như núi, nhưng không thể tạo ra dù chỉ một đồng sức mua thực tế. Robot dù giỏi sản xuất đến đâu cũng không tự vay tiền mua xe, thuật toán dù mạnh đến mấy cũng chẳng thể dẫn cả gia đình đi siêu thị sắm đồ.

Hàng hóa không bán được, kho bãi tồn đọng, dòng tiền của doanh nghiệp cạn kiệt, cuối cùng nhà máy chỉ còn cách ngừng hoạt động. Dây chuyền tự động hóa từng tốn đống tiền đầu tư rốt cuộc lại biến thành đồ trang trí.

rot-bot-thay-the-con-nguoi.jpg
Đã đến lúc các doanh nghiệp tính toán lại bài toán sử dụng lao động người và máy sao cho hiệu quả. Ảnh: Creaders.

Lời giải cho thế bế tắc đã có từ 100 năm trước: mức lương 5 USD/ngày của Henry Ford

Nhiều người đổ lỗi cho các chủ nhà máy, chửi họ tham lam, nhưng nếu ở vị trí chủ doanh nghiệp, khi đối thủ nhờ tự động hóa mà cắt giảm được 30% chi phí sản xuất, ép giá sản phẩm xuống mức kịch sàn, nếu không đưa robot vào thì nhà máy không sống nổi quá nửa năm; mà đã đưa robot vào thì bắt buộc phải sa thải nhân công để giảm chi phí.

Lựa chọn của mỗi ông chủ đều là sự tự vệ hợp lý, nhưng khi tất cả mọi người cùng làm vậy, nó lại trở thành một vòng xoáy “tập thể tự sát”.

Ngay từ năm 1914, Henry Ford đã đưa ra lời giải. Thời điểm đó, sau khi Ford đưa dây chuyền sản xuất vào vận hành, sản lượng tăng vọt, nhưng công nhân lại cực kỳ khổ sở, tỷ lệ nhảy việc cao chót vót, và người bình thường thì hoàn toàn không mua nổi ô tô.

Trong khi toàn ngành cố sức ép giá nhân công xuống thấp nhất có thể, Ford lại bất ngờ tuyên bố tăng gấp đôi lương ngày từ 2,5 USD lên 5 USD, đồng thời rút ngắn giờ làm từ 9 tiếng xuống 8 tiếng.

Khi đó Phố Wall chửi Henry Ford điên rồ, chờ ông phá sản. Thế nhưng chỉ trong vòng 2 năm, lợi nhuận của Ford đã tăng gấp đôi. Mức lương cao không chỉ giúp ông chiêu mộ được những người thợ giỏi nhất, đẩy tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn tăng vọt, mà quan trọng hơn: nó biến chính những người công nhân áo xanh trong xưởng thành khách hàng lớn nhất mua xe của hãng.

Đạo lý mà Ford nghiệm ra rất đơn giản: Nếu chính những người làm ra sản phẩm còn không mua nổi sản phẩm đó, thì máy móc công nghiệp chạy càng nhanh, nền kinh tế càng mau sụp đổ.

Ông trả lương cao cho công nhân không phải để làm từ thiện, mà là tự tay khai thông vòng lặp khép kín giữa sản xuất và tiêu dùng. Hiệu suất thực sự chưa bao giờ là việc một nhà máy đơn lẻ ép chi phí nhân công xuống mức đường cùng, mà là sự tuần hoàn lành mạnh giữa sản xuất và tiêu dùng trên toàn bộ chuỗi cung ứng.

Công nhân nhận được thù lao xứng đáng thì mới có điểm tựa để tiêu tiền; thị trường có tiêu dùng sôi động thì mới có đơn hàng đổ về liên tục; nhà máy kiếm được lợi nhuận mới có thể tái đầu tư công nghệ và mở rộng sản xuất.

Ngày nay, robot chắc chắn vẫn sẽ vào nhà máy, bước tiến công nghệ là điều không ai ngăn nổi. Nhưng doanh nghiệp không thể chỉ dùng công nghệ để đào thải con người nhằm tiết kiệm chi phí, mà phải dùng thành quả công nghệ để nâng cấp người lao động: dùng máy móc gánh vác những công việc nặng nhọc, độc hại, lặp đi lặp lại; giải phóng con người sang làm những công việc có giá trị gia tăng cao hơn.

Chỉ khi dòng máu sản xuất và tiêu dùng cùng lưu thông, mạch máu kinh tế mới được thông suốt. Có như vậy, những cánh tay máy đắt đỏ kia mới không biến thành đống sắt vụn phủ bụi sau một thời kỳ hưng phấn mù quáng.

Ver2Solution theo Viettimes

Continue Reading

Công Nghệ Phần Cứng

Robot 1mm bay bằng âm thanh, không cần động cơ

Published

on

Các kỹ sư đã biến một hiện tượng vật lý dùng để lên dây nhạc cụ thành nguồn năng lượng cho robot 1mm siêu nhỏ, giúp chúng bay, lơ lửng và tự đổi hướng chỉ bằng sóng âm.

Nghiên cứu của nhóm kỹ sư tại Viện Công nghệ Liên bang Lausanne (EPFL), Thụy Sĩ, được công bố trên tạp chí Science Advances, dựa trên cộng hưởng Helmholtz – hiện tượng được nhà vật lý Đức Hermann von Helmholtz nghiên cứu từ năm 1856.

Khi không khí bị giữ trong một khoang rỗng và được kích thích ở tần số phù hợp, nó cộng hưởng và tạo ra một luồng khí nhỏ. Nếu tăng áp suất, luồng khí này có thể tạo lực đẩy đủ để phục vụ máy móc.

Nhóm nghiên cứu nhận thấy việc thu nhỏ khoang cộng hưởng giúp tần số kích hoạt tăng lên vùng siêu âm – cao hơn khả năng nghe của con người. Sóng siêu âm cũng dễ tập trung và điều khiển hơn.

Nếu dùng thiết bị lớn để tạo cùng lực đẩy bằng âm thanh nghe được, cường độ âm có thể gây khó chịu hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe.

Nhóm sử dụng kỹ thuật in 3D hai photon để chế tạo các cấu trúc rỗng theo những phương trình mô tả cộng hưởng Helmholtz.

Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và mô phỏng máy tính xác nhận các cấu trúc tạo lực đẩy như dự đoán, theo trang LiveScience ngày 2-9.

Ở quy mô lớn hơn, nhóm chế tạo những chiếc thuyền dài khoảng 5cm, tích hợp nhiều bộ cộng hưởng, mỗi bộ được điều chỉnh ở một tần số và hướng khác nhau. Bằng cách thay đổi cao độ của loa, các nhà nghiên cứu có thể khiến thuyền rẽ trái, rẽ phải hoặc đi thẳng.

Ở quy mô chỉ khoảng 1mm, họ chế tạo các “robot siêu nhỏ” có khả năng tạo lực nâng theo hai cách. Một số đẩy không khí xuống như tên lửa, trong khi số khác làm quay các cánh nhỏ để bay theo nguyên lý tương tự trực thăng.

Theo nhóm, ưu điểm lớn của công nghệ là khả năng thu nhỏ. Động cơ khó giảm kích thước vô hạn vì cần nam châm, cuộn dây, trục và nhiều bộ phận khác. Trong khi đó, bộ cộng hưởng chỉ là những khoang rỗng được tạo hình nên về lý thuyết có thể tiếp tục thu nhỏ.

Nhóm cho rằng nguyên lý này còn có thể được dùng để xoay, thao tác vật thể nhỏ trong không trung mà không cần chạm vào chúng, hoặc chế tạo các bề mặt mềm có thể uốn và thay đổi hình dạng khi nhận đúng tần số.

Những ứng dụng như vậy có tiềm năng trong lĩnh vực y sinh, chẳng hạn thiết kế stent tim.

Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh đây là nền tảng. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào thiết kế ứng dụng, hệ thống điều khiển và khả năng định hướng cho các robot siêu nhỏ này.

Ver2Solution theo Tuổi Trẻ

 

Continue Reading

Khởi Nghiệp

Trình độ sản xuất chip của Trung Quốc vẫn mắc kẹt ở năm 2004

Published

on

Dù nhận được nhiều lời khen, giới đầu tư nhận định năng lực sản xuất chip hiện tại của quốc gia tỷ dân vẫn còn tụt hậu 22 năm, bám đuổi ASML trong tuyệt vọng.

Ngành sản xuất chip của Trung Quốc đang bị tụt hậu tới 22 năm so với công nghệ của ASML (Hà Lan). Trong khi các công ty đến từ Đài Loan (Trung Quốc) đã đưa các thiết bị quang khắc siêu cực tím (EUV) vào vận hành quy mô lớn suốt ít nhất 5 năm qua, thì phải khoảng 10 năm nữa Trung Quốc mới có thể tự sản xuất được dòng máy này.

Ngay cả với máy quang khắc cực tím sâu (DUV) — thế hệ tiền nhiệm của EUV — cũng phải mất ít nhất từ 2 đến 5 năm nữa Trung Quốc mới có thể sản xuất thương mại hàng loạt.

Nỗ lực bám đuổi tuyệt vọng

Ngành công nghiệp bán dẫn Trung Quốc đang tụt hậu sâu so với công nghệ phương Tây. Dẫn báo cáo phân tích từ tập đoàn tài chính Thụy Sĩ UBS Group AG, trang TrendForce cho biết năng lực hiện tại của quốc gia tỷ dân này chỉ tương đương với trình độ của ASML vào năm 2004.

ASML là tập đoàn của Hà Lan và cũng là nhà sản xuất máy quang khắc lớn nhất thế giới. Trước khi xung đột thương mại Mỹ – Trung bùng nổ vào năm 2018, công ty này vẫn tự do xuất khẩu thiết bị và cung cấp dịch vụ bảo trì cho các đối tác tại Trung Quốc.

Tuy nhiên, các hoạt động này hiện đã bị siết chặt nghiêm ngặt. Ngược lại, các máy quang khắc của ASML lại trở thành cánh tay đắc lực cho TSMC (Đài Loan – Trung Quốc) — nhà sản xuất chip theo hợp đồng lớn nhất hành tinh. TSMC hiện gia công vi xử lý cho hàng loạt ông lớn như Apple, Qualcomm, AMD, Nvidia… Trước đây không lâu, danh sách khách hàng của TSMC từng bao gồm cả các nhà phát triển vi xử lý của Nga.

Cần thêm nhiều thời gian

Tới đầu mùa thu năm 2026, những cỗ máy quang khắc tân tiến nhất thế giới hiện nay là dòng máy sử dụng công nghệ siêu cực tím (EUV). ASML đã sản xuất và thương mại hóa dòng máy này trong nhiều năm, cho phép tạo ra các vi mạch trên tiến trình cực mỏng, bao gồm cả tiến trình 2nm.

Thế hệ máy quang khắc trước đó vận hành dựa trên công nghệ cực tím sâu (DUV). Dù không thể đáp ứng các tiêu chuẩn tiến trình siêu nhỏ, dòng máy này vẫn giữ vai trò quan trọng và nằm trong danh mục sản phẩm của ASML.

Dẫn dự báo từ UBS Group AG, hãng tin Bloomberg cho biết Trung Quốc sẽ phải mất khoảng 10 năm nữa mới có thể sở hữu máy quang khắc EUV do chính mình tự chủ. Còn với máy quang khắc DUV, quốc gia này cũng cần từ 2 đến 5 năm mới đạt tới giai đoạn sản xuất hàng loạt.

Cuộc đua ráo riết

Trung Quốc rõ ràng đang tăng tốc trong cuộc đua tự chủ thiết bị sản xuất vi chip tiên tiến. Theo Bloomberg , UBS Group AG ghi nhận nhiều tín hiệu cho thấy tiến trình này đang có bước tiến — nổi bật là sự bùng nổ về số lượng bằng sáng chế tại Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực nguồn sáng và hệ thống laser.

Sản xuất chip Trung Quốc vẫn tụt hậu 22 năm so với công nghệ ASML năm 2026 - Ảnh 2.

Các biện pháp trừng phạt từ phương Tây vô hình trung lại trở thành động lực thúc đẩy Trung Quốc đẩy nhanh tốc độ tự nghiên cứu. Lệnh cấm đã khiến ASML mất quyền cung cấp máy quang khắc EUV lẫn dịch vụ sửa chữa thiết bị đã giao cho Trung Quốc. Trang TrendForce nhận định, rào cản này không chỉ gây khó cho Bắc Kinh mà còn giáng đòn đau vào doanh thu tổng thể của ASML, đặc biệt là mảng kinh doanh tại thị trường Trung Quốc.

Tham vọng tự chủ bán dẫn của Bắc Kinh đang khiến nhu cầu mua máy quang khắc ASML tại thị trường này sụt giảm nhanh chóng. Theo báo cáo tài chính mới nhất của ASML, đóng góp của Trung Quốc vào tổng doanh thu thuần từ bán hệ thống theo khu vực đã giảm xuống còn 14% trong quý II/2026, so với mức 19% của quý I/2026.

Nỗ lực bằng mọi giá

Theo thông tin từ dịch vụ tài chính BigGo Finance , dữ liệu của UBS Group AG về khoảng cách nhiều thập kỷ giữa Trung Quốc và ASML được tổng hợp từ nhiều nguồn, bao gồm cả thông tin rò rỉ từ dự án bí mật do chính phủ Trung Quốc bảo trợ nhằm tự phát triển hệ thống quang khắc EUV.

Một khi đã hiểu được công dụng của 3 ô vuông đó, bạn sẽ hiểu được cơ chế của mã QR.

Về quy mô và tầm ảnh hưởng đối với địa chính trị toàn cầu, dự án này được ví như “Dự án Manhattan” của Trung Quốc, phản ánh nguồn lực khổng lồ được đổ vào đây. Đây được xem là quân bài chiến lược đối với tham vọng bán dẫn của Bắc Kinh.

Mức độ chịu chi của Trung Quốc cho giấc mơ tự chủ máy quang khắc từng được hé lộ phần nào qua cuộc điều tra của hãng tin Reuters vào cuối năm 2025. Báo cáo cho thấy Trung Quốc đã bước qua giai đoạn nghiên cứu lý thuyết để tiến tới chế tạo mẫu thử cho laser EUV. Tại thời điểm điều tra, hệ thống này đang trong quá trình vận hành thử nghiệm. Dù thiết bị đã phát ra tia cực tím EUV vào cuối năm 2025, nó vẫn chưa đủ điều kiện để đưa vào dây chuyền sản xuất chip thực tế.

Quyết tâm tiến về phía trước

Đến tháng 7/2026, Reuters tiếp tục phát hành một báo cáo mới cho biết Trung Quốc đã bắt đầu sản xuất hàng loạt các máy quang khắc DUV nội địa. Đơn vị dẫn dắt tiến trình này là Tập đoàn Công nghệ Điện tử Ái Thịnh Na (Aishengna Electronic Technology Group) — một doanh nghiệp nhà nước khá kín tiếng có trụ sở tại Thượng Hải. Theo TrendForce , Aishengna được cho là đã quy tụ dàn nhân sự nòng cốt từ nhiều startup quang khắc hàng đầu trong nước.

Song song với đó, các nhà sản xuất thiết bị bán dẫn Trung Quốc cũng đang thừa thắng xông lên nhờ làn sóng đầu tư mạnh mẽ vào ngành công nghiệp bán dẫn nội địa. Dẫn dự báo từ Goldman Sachs, tờ South China Morning Post cho biết chi tiêu cho thiết bị sản xuất chip tại Trung Quốc dự kiến sẽ tăng từ khoảng 44,3 tỷ USD năm 2026 lên 53 tỷ USD vào năm 2027 và chạm mốc 60,7 tỷ USD vào năm 2028.

Ver2Solution theo Markettimes

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .