Xu Hướng
Đặt lại câu hỏi vì sao nhiều Gen Z thà ăn bám bố mẹ cũng không muốn làm việc 8 tiếng 1 ngày?
Giới trẻ Hong Kong (Trung Quốc) đang từ bỏ những công việc ổn định nhưng “đơn điệu” để theo đuổi công việc bán thời gian và tự do phù hợp với sở thích. Liệu đây có phải là xu hướng “nằm thẳng” hay một lối đi riêng của Gen Z tại Hong Kong, hay rộng hơn là giới trẻ ở nhiều nơi khác nữa trên thế giới? Đặt lại câu hỏi vì sao nhiều Gen Z thà ăn bám bố mẹ cũng không muốn làm việc.
Từ chối công việc “bình thường” lặp lại
Khi Alex Wong (22 tuổi) lớn lên, cha anh dành phần lớn thời gian ở chỗ làm thay vì ở nhà. Kỳ nghỉ gia đình cũng chỉ giới hạn vào mùa hè. Cha anh đã hứa rằng: Sau khi nghỉ hưu, họ chắc chắn sẽ bù đắp khoảng thời gian đã mất.
Lời hứa đó đã tan vỡ khi ngay sau sinh nhật lần thứ 18 của Wong, cha anh bị chấn thương cột sống dẫn đến liệt. Đó là một khoảnh khắc thay đổi cuộc đời Wong.
Anh nghĩ nếu cha mình đã làm việc không mệt mỏi cho một tương lai không bao giờ đến, thì điều gì có thể ngăn cản điều tương tự xảy ra với mình? Wong chia sẻ: “Trước đây tôi dành phần lớn thời gian để học. Giờ tôi muốn tận hưởng bản thân đủ đầy trước đã và chỉ nghĩ đến tương lai khi bước sang tuổi 30.”
Alex Wong cùng người cha nằm liệt giường.
Sự quyết tâm theo đuổi con đường này của Wong vẫn không lay chuyển, ngay cả khi đối mặt với khó khăn tài chính. Mẹ anh, trụ cột gia đình, không chỉ nuôi cha anh mà còn cả em trai 6 tuổi của anh. Họ cũng phải thuê một người giúp việc nhà từ Indonesia. Wong xoay xở bằng cách làm việc trong kho vài ngày mỗi tháng, chỉ kiếm được 310 đô la Hong Kong (1 triệu đồng) mỗi ngày khi có việc, một mức lương thấp tại thành phố đắt đỏ này. Nhưng anh không vội vàng tìm kiếm một công việc ổn định hơn.
Tư duy của anh không phải là duy nhất. Một cuộc khảo sát liên quan năm ngoái cho thấy trong số những người trẻ (từ 15 đến 29 tuổi) không học hoặc không làm việc, 36% không có kế hoạch đi làm. Thực tế, hiện tượng được gọi là “tang ping”, hay nằm thẳng – một sự phản đối văn hóa làm việc chăm chỉ – đã trở nên phổ biến tại Trung Quốc vài năm trở lại đây.
Khoảng 44% học sinh trung học trong một cuộc thăm dò năm ngoái cho biết họ đang “nằm thẳng” hoặc có kế hoạch làm như vậy. Đối với một số người, đây là câu chuyện về tự do. Đối với những người khác, đơn giản là thấy nhàm chán.
Ken Hui (26 tuổi) đã làm việc toàn thời gian khoảng 6 tháng trước khi nghỉ việc vào năm 2023. Công việc hành chính của anh gắn liền với việc lập kế hoạch thể thao và sự kiện, ban đầu có vẻ thú vị nhưng nhanh chóng trở nên lặp đi lặp lại. Anh nói: “Tôi không muốn quay lại làm việc toàn thời gian vì tôi không muốn công việc của mình quá đơn điệu – lặp đi lặp lại công việc tương tự mỗi ngày (và) tan sở cùng một lúc. Không có cuộc sống.” Giờ đây, anh ấy xoay xở với các công việc tự do, chẳng hạn như nhiếp ảnh.
Ken Hui hiện đang sống cùng bố mẹ.
Trong khi đó, một số Gen Z đang làm việc tự do toàn thời gian hoặc làm nhiều công việc bán thời gian cùng lúc. Họ là một nhóm đang phát triển được gọi là “slashers” – được đặt tên như vậy vì các dấu gạch chéo trong mô tả công việc của họ.
Ví dụ, nghệ sĩ trang điểm Joyce Fung (25 tuổi) cũng là một người làm bánh mì bán thời gian tại một quán cà phê. Cô chia sẻ: “Tôi may mắn vì quán cà phê rất linh hoạt về giờ làm việc. Họ biết rằng tôi là một ‘slasher’ và tôi nhận công việc tự do. Sau khi tôi hoàn thành công việc trang điểm hoặc vào những ngày không có công việc trang điểm, tôi có thể làm việc ở đó.”
Cô ấy không có kế hoạch dừng lại, có lẽ là mãi mãi. Fung nói: “Tôi rất sợ sự nhàm chán. Nếu tôi phải làm việc từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều mỗi ngày và làm những công việc gần giống nhau, thì đó không phải là cách sống mà tôi mong muốn.”
Liệu Gen Z có phải đang ngày càng mệt mỏi với công việc không và điều gì có thể thúc đẩy họ lựa chọn khác biệt đi như vậy?
Năm 2022, dữ liệu cho thấy Hong Kong đã mất khoảng 116.600 lao động trẻ (từ 18 đến 39 tuổi) trong khoảng thời gian hai năm. Nhiều người đã rời khỏi thành phố hoặc đơn giản là chọn không tham gia lực lượng lao động. Các chuyên gia cho rằng một lý do đằng sau sự thay đổi ở Gen Z là sự an toàn tài chính mà các thế hệ trước đã đạt được. Giám đốc Hiệp hội Sức khỏe Tâm thần Hong Kong Benson Chan nhận định: “Cha mẹ của họ khá giả hơn và không mong đợi thế hệ mới kiếm được nhiều tiền để chăm sóc họ. Thế hệ này không thực sự phải đối mặt với áp lực tài chính.”
Kết quả là, nhiều người trẻ vẫn phụ thuộc tài chính vào gia đình, với đa số vẫn sống ở nhà. Điều này đã tạo ra một từ mới: “những đứa con toàn thời gian”, chỉ những người trẻ tuổi sống với cha mẹ và giúp đỡ việc nhà để đổi lấy tiền trợ cấp. Ngoài túi tiền của cha mẹ, nhiều người thuộc thế hệ Z cũng tập trung vào hiện tại hơn là các mục tiêu tài chính dài hạn.
Wong cho biết hầu hết bạn bè của anh đều có tâm lý tiêu xài trước, làm việc sau. Họ thà kiếm đủ tiền để mua trò chơi, nâng cấp thiết bị và tận hưởng cuộc sống. “Họ chỉ nghĩ đến việc quay lại làm việc khi hết tiền.”
Giám đốc Chan cho rằng việc lớn lên trong một thế giới của mạng xã hội và sự hài lòng tức thì đã khiến Gen Z cảm thấy không hài lòng khi mong muốn của họ không được đáp ứng ngay lập tức. Đồng thời, các mục tiêu tài chính dài hạn dường như nằm ngoài tầm với. Một khảo sát của HSBC năm 2024 cho thấy 61% Gen Z Hong Kong tin rằng việc sở hữu nhà là “xa vời” đối với họ. Xét cho cùng, Hong Kong là một trong những thị trường bất động sản đắt đỏ nhất thế giới: Một ngôi nhà tư nhân trung bình có giá 1,15 triệu USD, tức gần 30 tỷ đồng. Đối với Hui, điều đó dường như không đáng.
Giám đốc Chan tin rằng sự vỡ mộng này còn sâu sắc hơn. Ông nói: “Nhiều bạn trẻ cảm thấy, ‘Nếu dù sao tôi cũng không thể đáp ứng được kỳ vọng, tại sao tôi phải làm việc?'”.
Thời gian dài đại dịch cũng góp phần định hình quan điểm của Gen Z. Nó cắt đứt các tương tác xã hội của họ và làm sâu sắc thêm cảm giác bị cô lập.
Wong đã trải nghiệm điều này trực tiếp. Khi đang học tập tại Trung Quốc đại lục với tư cách là một sinh viên xuyên biên giới, anh thấy mình bị mắc kẹt trong các biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt. Wong, người đã trở nên “ẩn dật hơn nữa”, nhớ lại: “Ở các khu phố nhỏ, tất cả các bạn đều bị bịt kín, chỉ có một điểm ra vào. Bạn chỉ có thể sử dụng dịch vụ giao hàng để mua thực phẩm tạp hóa.” Sự cô lập, cùng với áp lực thi cử, đã ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của anh. Ở thời điểm tồi tệ nhất, anh thậm chí còn nghĩ đến việc tự kết liễu đời mình.
Wong cho biết anh cũng tăng cân vì ít ra ngoài hơn.
Giám đốc Chan, người làm việc với những người trẻ tuổi gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, cho biết nhiều người trong số họ phải vật lộn vì “họ phải đối mặt với áp lực từ bên ngoài hoặc thiếu mục tiêu rõ ràng cho tương lai.” Ông nói thêm: “Vì vậy, họ cảm thấy thờ ơ với việc có (thành công) hay không… Họ nghĩ rằng nằm thẳng ở nhà cũng không sao.”
Gen Z không thể chịu khổ hay có nhiều chuyện cần bàn hơn thế nữa?
Ngay cả khi chọn làm việc toàn thời gian, Gen Z có thể không tìm kiếm được việc làm lâu dài vì cơ hội đang giảm dần. Hãy xem Ada Siu (24 tuổi). Một sinh viên mới tốt nghiệp ngành truyền thông, cô và một số bạn cùng lớp đã phải vật lộn trong 6 tháng để tìm được một công việc toàn thời gian. Mỗi người họ phải nộp hơn 100 đơn xin việc để đảm bảo một vài cuộc phỏng vấn.
Siu nói: “Trước đây, nếu bạn nộp, giả sử, 10 sơ yếu lý lịch, bạn có thể đảm bảo một hoặc hai cuộc phỏng vấn.”
Sự phục hồi sau đại dịch của Hong Kong diễn ra chậm chạp. Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội năm ngoái — 2,5% — ở mức thấp nhất trong phạm vi dự kiến. Năm nay, tăng trưởng dự kiến sẽ nằm trong khoảng từ 2% đến 3%.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Lãi suất cao, thị trường bất động sản sụt giảm và sự di cư của các nhà đầu tư đã khiến các doanh nghiệp này phải vật lộn để duy trì hoạt động. Họ chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp của Hong Kong, sử dụng hơn 44% lực lượng lao động khu vực tư nhân nhưng phải tranh giành để thu hút nhân tài trẻ.
Vài tháng trước, Siu đã có được một vị trí toàn thời gian tại một công ty nhỏ, nơi cô ấy hỗ trợ các sự kiện và quan hệ công chúng. Nhưng thời gian của cô ở đó không kéo dài lâu. Cô nhớ lại: “Vào ngày thứ tư,… tôi đã cảm thấy (công ty) không phù hợp với mình. Tôi quay trở lại tìm việc… Tôi đã rời đi sau một tháng.”
Siu không thấy “sự phát triển nhiều” ở công ty.
Theo một cuộc khảo sát năm ngoái, cứ 5 người thuộc Gen Z và Gen Y ở Hong Kong thì có 2 người thường xuyên nghĩ đến việc rời bỏ công việc. Nhiều người trong số họ có thể đang tìm kiếm sự gắn bó hơn. Siu nói về việc ở lại một công ty lâu dài: “Tôi sẽ cảm thấy mình như một con ếch trong nước sôi. Nếu tôi cảm thấy rằng mình đã học hỏi đủ ở vị trí này hoặc đã trải nghiệm đủ, thì tôi nghĩ việc muốn thay đổi là điều tự nhiên.”
Tuy nhiên, việc nhảy việc không được ủng hộ trong văn hóa làm việc truyền thống của Hong Kong.
Trưởng bộ phận giải pháp nhân tài của công ty tư vấn tuyển dụng ConnectedConsult Wendy Suen lưu ý: “(Những người nhảy việc)… được coi là một chi phí cao đối với các công ty vì bạn đào tạo họ và sau đó họ rời đi.”
Để thu hút nhiều người thuộc thế hệ Z Hong Kong hơn, những người ngày càng lo ngại về kiệt sức, lo lắng và sức khỏe tâm thần, bà Suen đề xuất rằng các công ty nên tập trung vào việc thực hiện các sáng kiến về sức khỏe.
Một cuộc khảo sát do công ty khởi nghiệp về sức khỏe tâm thần Intellect và nền tảng tài sản kỹ thuật số Endowus công bố năm ngoái cho thấy 31% Gen Y và Gen Z Hong Kong muốn nơi làm việc của họ cung cấp các hội thảo về sức khỏe tinh thần. Trong một cuộc khảo sát gần đây khác, công ty truyền thông toàn cầu Edelman nhận thấy rằng Gen Z Hong Kong có kỳ vọng cao đối với các nhà lãnh đạo của họ. Họ muốn một người quản lý chăm chỉ và là người giống như một người bạn, người mà họ có thể kết nối một cách tự nhiên.
Người trẻ Hong Kong cho biết ngày càng có sự không phù hợp giữa nhu cầu của họ và những gì thị trường việc làm yêu cầu.
Người lao động trẻ cũng được biết đến là tìm kiếm các hệ thống phân cấp phẳng hơn và môi trường làm việc hợp tác hơn. Tuy nhiên, nhiều sở thích trong số này có thể gây khó khăn cho các công ty của Hong Kong, nơi vẫn phần lớn mang tính phân cấp, chú trọng vào các quy tắc và tính chuyên nghiệp.
Văn hóa làm việc nhiều giờ cũng là một yếu tố đáng bàn. Theo một cuộc khảo sát của Liên đoàn Công đoàn Hong Kong năm 2023, hơn một nửa số người lao động làm việc hơn 45 giờ một tuần; 7,3% số người được hỏi làm việc hơn 70 giờ. Trong khi đó, thế hệ Z muốn sự linh hoạt. Theo nhà cung cấp không gian làm việc toàn cầu International Working Group, gần 8 trong số 10 nhân viên Gen Z ở Hong Kong thích làm việc kết hợp và việc thiếu điều đó là lý do chính khiến 3 trong số 10 nhân viên rời bỏ công việc trước đó.
Bà Suen mô tả, nhân viên Gen Z trung bình muốn “làm việc thông minh, chứ không phải làm việc chăm chỉ”, nhưng lại là người phát triển mạnh mẽ trước những thách thức và khao khát sự kích thích cũng như cơ hội học hỏi. Bà nói: “(Gen Z) coi trọng thời gian. Họ biết mình muốn gì, và họ yêu cầu điều đó, và họ cũng không muốn lãng phí thời gian của bất kỳ ai.”
Nguồn CNA
Trong Nước
Top 10 thương hiệu và sản phẩm được tiêu dùng nhiều nhất tháng 8 hàng năm
Dựa trên báo cáo Kantar Brand Footprint và dữ liệu thị trường từ Metric, tháng 8 hàng năm là cao điểm của mùa tựu trường và chuẩn bị cho Tết Trung thu.
- Vinamilk: Thương hiệu sữa dẫn đầu thị trường nhờ nhu cầu bổ sung dinh dưỡng tăng vọt khi học sinh quay lại trường học.
- Hảo Hảo (Acecook): Thương hiệu mì ăn liền quốc dân giữ sản lượng tiêu thụ khổng lồ phục vụ bữa ăn nhanh tiện lợi cho học sinh, sinh viên.
- Chin-su (Masan): Dòng nước chấm, gia vị thiết yếu ghi nhận sức mua tăng mạnh khi các gia đình ổn định lại nhịp sinh hoạt sau mùa du lịch hè.
- Kinh Đô: Bắt đầu giai đoạn cao điểm phân phối bánh Trung thu từ giữa tháng 8, phục vụ nhu cầu biếu tặng và tiêu dùng sớm.
- Unilever (Omo / Comfort): Thống trị ngành hàng chăm sóc gia đình với nhu cầu giặt giũ đồng phục, làm sạch quần áo tăng cao đầu năm học mới.
- Coca-Cola: Dẫn đầu ngành hàng đồ uống giải khát mùa nắng nóng cuối hè tại cả thành thị lẫn nông thôn.
- Thanh Long (hoặc Campus/Hồng Hà): Nhóm thương hiệu tập vở, văn phòng phẩm ghi nhận điểm rơi doanh số lớn nhất trong năm vào tháng 8.
- Milo (Nestlé): Thương hiệu thức uống lúa mạch gắn liền với các chiến dịch năng lượng đến trường của trẻ em, đạt traffic tiêu thụ cực lớn.
- Cocoon: Thương hiệu mỹ phẩm thuần chay Việt bùng nổ doanh số qua các phiên livestream ưu đãi đổi mùa trên TikTok Shop.
- Samsung / Apple: Phân khúc thiết bị công nghệ (điện thoại, máy tính bảng) tăng trưởng mạnh theo chương trình kích cầu mùa tựu trường.
Ver2Solution Research
Trong Nước
Hàng hóa online đắt dần lên
Giá hàng hóa trên các sàn online đắt dần lên và có lúc đắt hơn offline, do người bán chịu áp lực chi phí đầu vào, vận hành và phí sàn.
Mua nhiều quần áo, giày dép qua các sàn thương mại điện tử, chị Ngọc Trân (30 tuổi, phường Vườn Lài, TP HCM), cho biết gần đây hàng hóa không rẻ như trước. Thậm chí, nhiều món đắt hơn mua trực tiếp tại cửa hàng.
Chị ví dụ đôi sandal nhựa thơm cho trẻ nhỏ được bán trên sàn giá 650.000 đồng, trong khi hỏi trực tiếp cửa hàng chỉ 490.000 đồng. “Nếu áp các mã khuyến mãi, giá trên sàn vẫn nhỉnh hơn khoảng 50.000 đồng”, chị Trân, cho biết.
Tương tự, Quốc Tuấn (38 tuổi, phường Nhiêu Lộc, TP HCM) phát hiện giá nước súc miệng trên sàn nhích dần và đã vượt qua giá bán trực tiếp ở nhà thuốc. “Các chuỗi nhà thuốc, siêu thị mini giờ phổ biến, hay có ưu đãi tại chỗ nên có thể rẻ hơn 5.000-10.000 đồng”, anh nói.
Các đơn vị thống kê dữ liệu kinh doanh trên 4 sàn Shopee, TikTok Shop, Lazada và Tiki cũng ghi nhận xu hướng giá hàng hóa tăng dần lên trong một năm trở lại đây. Vào quý IV/2025, báo cáo của YouNet ECI lưu ý giá bán trung bình (ASP) toàn thị trường giai đoạn này tăng đến 33% so với cùng kỳ 2024.
Các quý gần đây, dữ liệu Metric cho thấy tăng trưởng doanh số giao dịch (GMV) trên 4 sàn nhanh hơn gấp đôi so với mức tăng sản lượng sản phẩm bán ra. Riêng quý cuối năm ngoái, chênh lệch đến 10 lần.
Tính toán từ dữ liệu của Metric có thể thấy trong vòng một năm qua, giá trị trung bình một sản phẩm bán ra tăng khoảng 25,8%, từ 103.760 đồng trong quý II/2025 lên 130.510 đồng trong quý I/2026.
Theo các nhà bán hàng (shop) và chuyên gia, giá cả trên các sàn online tăng do hàng hóa chịu sức ép giá đầu vào (giá sản xuất, nhập hàng…), vận hành bên ngoài sàn (nhân công, đóng gói, vận tải…) lẫn chi phí trên sàn (phí sàn, phí hoa hồng, phí bảo hiểm, phí mã ưu đãi, phí xử lý giao dịch, phí quảng cáo…) đều tăng.
Sáu tháng đầu năm nay, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,18% so với cùng kỳ 2025. Trong khi, chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 7,26%, theo Cục Thống kê. Ông Trần Lâm, chuyên gia đào tạo bán hàng trực tuyến kiêm CEO Julyhouse, nhận định vài năm qua, nguyên liệu đầu vào, nhân công, logistics, bao bì cho đến các chi phí tuân thủ pháp lý đều tăng.
Cùng với đó, chi phí bán được hàng trên sàn ngày càng cao. Nhà bán phải chi thêm cho quảng cáo, các chương trình khuyến mại bắt buộc, hoa hồng và nhiều loại phí khác. Hiện có những ngành hàng mà tổng chi phí liên quan đến nền tảng, quảng cáo và khuyến mại đã chiếm đến 45% trong giá bán. “Điều này khiến giá bán khó có thể giữ ở mức thấp như giai đoạn trước”, ông Lâm nói.
Riêng nửa đầu năm, Shopee và TikTok Shop đã vài lần điều chỉnh phí sàn, bao gồm tăng phí một số ngành hàng. Ví dụ, từ 3/7, TikTok Shop tăng phí 0,5-3% nhóm hàng sức khỏe, làm đẹp và chăm sóc cá nhân. Trước đó, từ 23/5, Shopee tăng phí cố định 1-4% với gian hàng chính hãng (mall) một số ngành hàng như chăm sóc thú cưng, sắc đẹp, sức khỏe và vài nhóm không thiết yếu khác.

Phí sàn cho một số ngành hàng trên Shopee và TikTok Shop. Đồ họa: Viễn Thông (có sự trợ giúp của AI)
Chị Ngọc Huyền, nhà bán phụ kiện ôtô và xe máy, cho hay các khoản phí cố định của TikTok Shop chiếm khoảng 25,5% doanh thu. Ngoài ra còn chi phí quảng cáo chiếm 10-15% doanh thu, tiếp thị liên kết khoảng 9-10%. “Hàng hoàn trả cũng chịu phí và các chi phí vận hành như thuê kho, nhân viên, đóng gói…”, chị kể.
Theo ông Trần Lâm, nhìn một cách tổng quan, giai đoạn “đốt tiền” để thu hút người dùng đang dần kết thúc. Trước đây, người mua hưởng nhiều ưu đãi như miễn phí vận chuyển, voucher lớn hay trợ giá từ chính các sàn thương mại điện tử.
“Nhưng những khoản hỗ trợ đó không thể kéo dài mãi. Nói một cách đơn giản, thương mại điện tử đang chuyển từ giai đoạn tăng trưởng bằng trợ giá sang giai đoạn tăng trưởng bằng hiệu quả vận hành”, ông nhận định.
Người tiêu dùng tìm cách thích ứng bằng chi tiêu chặt chẽ và kết hợp mua ở nhiều kênh online khác nhau, như website, tài khoản mạng xã hội của cửa hàng, thương hiệu hoặc mua trực tiếp ở cửa hàng, siêu thị. Quý IV/2025, khi giá bán trung bình (ASP) tăng 33% từng dẫn đến sản lượng tiêu thụ giảm 8%, theo YouNet ECI.
“Giờ các món đồ giá rẻ thì tôi mua trực tiếp của shop chứ không qua sàn. Những sản phẩm giá trên một triệu, tôi canh sàn khuyến mại ngày đôi, săn mã giảm giá, miễn phí vận chuyển và quyền lợi trả hàng”, chị Trân, nói.
Với nhà bán hàng, ông Lâm khuyến nghị theo đuổi sự khác biệt, có câu chuyện thương hiệu, chất lượng tốt. Chuyên gia cho rằng cơ hội ở chỗ người tiêu dùng cũng ngày càng thông thái, thay vì chỉ nhìn vào mức giá thấp nhất, họ dần quan tâm đến nguồn gốc rõ ràng, chất lượng, độ bền sản phẩm.
“Nhà bán hàng cần tiếp tục tối ưu vận hành, chuỗi cung ứng, giảm lãng phí và tăng tỷ lệ khách hàng quay lại, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào quảng cáo trả phí”, ông nói.
Ông Lâm cũng kêu gọi các sàn tạo môi trường phát triển dài hạn, hỗ trợ nhà bán thêm về công cụ phân tích dữ liệu, xây dựng thương hiệu, chăm sóc – phát triển khách hàng trung thành. “Và quan trọng nhất là xem lại các mức phí để điều chỉnh phù hợp, cùng đồng hành phát triển với nhà bán”, ông nói.
Để hỗ trợ khách hàng và nhà bán, các nền tảng cho biết đã giảm phí nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và thêm chính sách hỗ trợ nhà bán. Shopee giảm 1% phí cố định cho một số ngành hàng thuộc nhóm tiêu dùng nhanh, nhà cửa & đời sống từ tháng 5. Đầu tháng 7, TikTok Shop giảm phí 1-3% cho thực phẩm, nội thất, đồ gia dụng, sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh, thai sản, chăm sóc cá nhân…
Với shop, TikTok Shop mở rộng hỗ trợ cho nhóm bán hàng OCOP, nông sản, làng nghề mở shop trong nửa cuối 2026. Shopee tăng quyền lợi cho nhà bán “Shop Yêu Thích” và “Shop Yêu Thích+”, bổ sung công cụ AI, phân tích dữ liệu giúp tối ưu vận hành, quản lý sản phẩm và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Ver2Solution theo Vnexpress
Trong Nước
Thế hệ shop TMĐT mới
Cuộc cách mạng lớn nhất của TMĐT không nằm ở Shopee hay TikTok Shop: AI đang biến shop 3 người thành “công ty” 30 người, các thế hệ shop TMĐT mới.
Trong nhiều năm, mỗi cuộc thảo luận về thương mại điện tử thường xoay quanh những cái tên quen thuộc như Shopee, Lazada, TikTok Shop hay Amazon. Người ta nói về thuật toán, cuộc đua trợ giá, livestream, khuyến mãi và tốc độ giao hàng. Tuy nhiên, có một cuộc cách mạng khác đang diễn ra âm thầm hơn nhưng có thể tạo ra tác động còn sâu rộng hơn: AI đang thay đổi chính cách người bán vận hành doanh nghiệp của mình, xuất hiện thêm nhiều mô hình mới, shop TMĐT mới.
Nếu như vài năm trước, AI được xem là công nghệ dành cho các tập đoàn công nghệ hoặc những doanh nghiệp có ngân sách lớn, thì đến năm 2026, nó đã trở thành công cụ mà ngay cả một cửa hàng online vài nhân sự cũng có thể tiếp cận. Điều đáng chú ý là AI không chỉ giúp làm việc nhanh hơn. Nó đang làm thay ngày càng nhiều công việc vốn thuộc về con người.
Theo McKinsey, AI tạo sinh có thể tạo thêm từ 400 đến 660 tỷ USD giá trị mỗi năm cho ngành bán lẻ và hàng tiêu dùng, chủ yếu nhờ tự động hóa các hoạt động marketing, bán hàng, chăm sóc khách hàng và quản lý chuỗi cung ứng. Điều đáng chú ý là phần lớn giá trị này không đến từ việc bán thêm AI, mà đến từ việc doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn.
AI của người bán hàng TMĐT
Một shop bán hàng trực tuyến trước đây thường phải xây dựng cả một “dây chuyền” nhân sự. Có người viết nội dung, có người chụp ảnh sản phẩm, có người chỉnh sửa video, có người trả lời khách hàng, có người tối ưu quảng cáo và có người phân tích doanh số. Quy mô nhân sự tăng gần như tỷ lệ thuận với tốc độ mở rộng kinh doanh.
Ngày nay, mối quan hệ đó đang dần thay đổi.
Trong khảo sát với hơn 50 lãnh đạo bán lẻ toàn cầu, McKinsey cho biết 90% doanh nghiệp đã bắt đầu thử nghiệm hoặc mở rộng các ứng dụng AI tạo sinh, trong khi 82% đã triển khai AI trong chăm sóc khách hàng và 36% đang đưa các giải pháp này vào vận hành ở quy mô lớn. Điều đó cho thấy AI không còn dừng ở giai đoạn thử nghiệm mà đã bắt đầu trở thành một phần của quy trình kinh doanh.
Buổi sáng, người bán có thể yêu cầu ChatGPT hoặc Claude viết hàng chục mô tả sản phẩm theo nhiều phong cách khác nhau chỉ trong vài phút. Những đoạn mô tả không còn đơn thuần giới thiệu tính năng mà còn được tối ưu cho từ khóa tìm kiếm, phù hợp với từng nhóm khách hàng và từng nền tảng khác nhau.
Shopify hiện đã tích hợp các công cụ như Shopify Magic và Sidekick để hỗ trợ người bán tạo mô tả sản phẩm, email marketing, nội dung quảng cáo, quản lý danh mục hàng hóa và phân tích dữ liệu. Theo Shopify, tạo nội dung là một trong những ứng dụng AI được người bán sử dụng nhiều nhất trong bán lẻ hiện nay.
Khi cần hình ảnh quảng cáo, họ không nhất thiết phải thuê studio hay tổ chức một buổi chụp tốn kém. Các mô hình tạo ảnh như Midjourney, GPT Image, FLUX hay Ideogram có thể tạo ra những bức ảnh lifestyle, banner quảng cáo hoặc ảnh sản phẩm trong nhiều bối cảnh khác nhau chỉ từ một đoạn mô tả văn bản. Một chiếc bình giữ nhiệt có thể xuất hiện trên bàn làm việc hiện đại, trong chuyến dã ngoại hay bên cạnh ly cà phê buổi sáng mà không cần chụp thêm bất kỳ tấm ảnh nào.
Video, vốn từng là “nút thắt” lớn nhất của nhiều người bán, cũng đang được AI giải quyết. Các công cụ như Kling, Veo hay Runway có thể tạo video quảng cáo ngắn, mô phỏng chuyển động sản phẩm hoặc dựng nội dung phục vụ TikTok và Reels với thời gian sản xuất ngắn hơn rất nhiều so với quy trình truyền thống. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh video ngắn đang trở thành định dạng chủ đạo của thương mại điện tử.
Một nhóm nghiên cứu của Alibaba đã công bố hệ thống “Sell It Before You Make It”, cho phép người bán tạo hình ảnh sản phẩm bằng AI trước khi sản xuất hàng thật. Trong các thử nghiệm trực tuyến, hình ảnh do AI tạo ra giúp tăng hơn 13% tỷ lệ nhấp và tỷ lệ chuyển đổi so với phương án truyền thống. Ý tưởng này mở ra mô hình “bán trước rồi mới sản xuất”, giúp giảm đáng kể chi phí tồn kho và thử nghiệm sản phẩm mới.
Ở phía sau màn hình, AI cũng đang tham gia vào những công việc ít được chú ý hơn nhưng lại tiêu tốn rất nhiều thời gian. Thay vì phải trả lời lặp đi lặp lại những câu hỏi như “còn hàng không”, “bao giờ giao”, “đổi trả thế nào”, các trợ lý AI có thể xử lý phần lớn các yêu cầu phổ biến, đồng thời kết nối với hệ thống quản lý đơn hàng để tra cứu tồn kho hoặc trạng thái vận chuyển. Vai trò của nhân viên chăm sóc khách hàng vì thế đang dần chuyển từ trả lời câu hỏi sang xử lý những tình huống phức tạp mà AI chưa thể giải quyết.
Ngay cả quảng cáo, lĩnh vực từng được xem là “nghệ thuật” của những chuyên gia marketing, cũng đang thay đổi. Các nền tảng quảng cáo ngày càng tự động hóa quá trình lựa chọn đối tượng, phân phối ngân sách, thử nghiệm nội dung và tối ưu hiệu quả. Người bán không còn dành phần lớn thời gian để chỉnh từng nhóm quảng cáo mà chuyển sang xác định mục tiêu kinh doanh và đánh giá kết quả.
Bước chuyển tiếp
Điểm đáng chú ý là những thay đổi này không diễn ra riêng lẻ. Chúng đang tạo thành một hệ thống vận hành mới, nơi AI đảm nhận phần lớn các tác vụ lặp lại, còn con người tập trung vào việc lựa chọn sản phẩm, xây dựng thương hiệu, phát triển chiến lược và đưa ra quyết định.
Đây cũng là lý do ngày càng nhiều chuyên gia không còn nhìn AI đơn thuần như một phần mềm hỗ trợ, mà coi nó là một “đội ngũ nhân sự số”. Thay vì tuyển thêm năm người cho năm công việc khác nhau, một doanh nghiệp nhỏ có thể xây dựng một quy trình mà trong đó mỗi công đoạn đều có AI hỗ trợ. Một mô hình ngôn ngữ phụ trách viết nội dung, một mô hình tạo ảnh đảm nhiệm thiết kế, một mô hình tạo video sản xuất quảng cáo, một AI agent xử lý chăm sóc khách hàng và một hệ thống phân tích dữ liệu hỗ trợ ra quyết định.
Nếu trước đây quy mô doanh nghiệp thường được đo bằng số lượng nhân viên thì trong tương lai, lợi thế cạnh tranh có thể nằm ở việc doanh nghiệp đó sở hữu bao nhiêu “đồng nghiệp AI” và biết phối hợp chúng hiệu quả đến đâu.
Tháng 4/2025, CEO Shopify Tobi Lütke gửi một bản ghi nhớ nội bộ yêu cầu các quản lý phải trả lời một câu hỏi trước khi tuyển thêm người: “Vì sao AI không thể làm công việc này?”.
Theo ông, sử dụng AI sẽ trở thành kỹ năng cơ bản của mọi nhân viên và là tiêu chí đánh giá hiệu suất trong công ty. Đây được xem là một trong những tuyên bố thể hiện rõ nhất việc AI đang được coi như một phần của lực lượng lao động, thay vì chỉ là một công cụ hỗ trợ.
Tất nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc AI sẽ thay thế hoàn toàn con người. Những công việc đòi hỏi sự sáng tạo, khả năng xây dựng thương hiệu, đàm phán với đối tác hay xử lý các tình huống phức tạp vẫn cần đến kinh nghiệm và tư duy của con người. Tuy nhiên, các công việc mang tính lặp lại, tiêu chuẩn hóa và dựa nhiều vào quy trình đang được AI tự động hóa với tốc độ ngày càng nhanh.
Điều này cũng làm thay đổi cách các doanh nghiệp tuyển dụng. Thay vì tìm kiếm một người chỉ biết viết nội dung hay chỉnh sửa ảnh, họ bắt đầu ưu tiên những nhân sự biết thiết kế quy trình làm việc với AI, biết kiểm soát chất lượng đầu ra và kết hợp nhiều công cụ khác nhau để nâng cao năng suất. Giá trị của một nhân viên không còn nằm ở việc tự mình hoàn thành mọi công việc, mà ở khả năng điều phối cả con người lẫn AI để tạo ra kết quả tốt hơn.
Nhìn rộng hơn, đây có thể là bước chuyển tiếp lớn nhất của thương mại điện tử kể từ khi mô hình bán hàng trực tuyến phổ biến. Trong giai đoạn đầu, công nghệ giúp người bán tiếp cận khách hàng qua Internet. Giai đoạn tiếp theo, các sàn thương mại điện tử giúp kết nối cung và cầu ở quy mô lớn. Còn hiện nay, AI đang tái định nghĩa cách một doanh nghiệp được vận hành.
Báo cáo “Rewiring Retail in Europe: The AI Imperative” công bố năm 2026 của McKinsey nhận định AI đang tái định hình toàn bộ chuỗi giá trị bán lẻ, từ marketing, vận hành, logistics cho tới trải nghiệm mua sắm. Báo cáo cho rằng ngành bán lẻ đang bước từ giai đoạn AI hỗ trợ sang giai đoạn “Agentic AI”, nơi các hệ thống có thể tự đưa ra quyết định và thực hiện nhiều tác vụ với mức độ tự chủ cao hơn.
Điều đó cũng đồng nghĩa lợi thế cạnh tranh của người bán sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng xây dựng quy trình làm việc giữa con người và AI, thay vì chỉ đầu tư thêm nhân sự.
Có lẽ trong vài năm tới, sự khác biệt giữa những shop phát triển nhanh và phần còn lại sẽ không chỉ đến từ sản phẩm tốt hơn hay ngân sách quảng cáo lớn hơn. Nó sẽ đến từ việc ai biết xây dựng một “lực lượng lao động AI” hiệu quả hơn. Khi đó, câu hỏi quan trọng nhất của thương mại điện tử sẽ không còn là “bạn bán gì”, mà là “AI đang làm gì cho doanh nghiệp của bạn”.
-
Các Nền Tảng MXH8 tháng agoCập nhật Facebook từ ngày 1/11 đến ngày 10/11
-
Trong Nước9 tháng agoNgười Việt chi gần 4 tỷ USD mua sắm chỉ trên 3 sàn TMĐT lớn trong quý 3 năm 2025
-
Công Nghệ Phần Mềm8 tháng agoVí điện tử MoMo, Zalopay, ShopeePay,… bước sang trang mới
-
Các Nền Tảng MXH8 tháng agoFacebook Dating thu hút 21 triệu người dùng mỗi tháng
-
Công Nghệ Phần Mềm9 tháng agoMột nửa giới startup AI hiện tại sẽ bị hủy diệt
-
Trong Nước9 tháng agoMục tiêu 45% SME Việt Nam bán hàng qua sàn thương mại điện tử
-
Xu Hướng8 tháng agoRobot đồ chơi chạy Deepseek giá dưới một triệu đồng hút khách
-
Tâm Lý Học NTD9 tháng ago2 thương hiệu lớn bất ngờ cùng viral trên mạng xã hội








