Social
Giải mã những cơn phẫn nộ tập thể trên Facebook, dưới góc nhìn xã hội học
Giải mã những cơn phẫn nộ tập thể trên Facebook: 1 phẫn nộ bằng 5 lượt thích, Facebook rất thích bạn phẫn nộ.
Những ngày này trên Facebook, thi thoảng, chúng ta lại thấy một làn sóng những người đổ dồn vào trang cá nhân của ai đó. Họ thả icon “phẫn nộ” trên tất cả các dòng trạng thái, các tấm ảnh và cả nội dung của người khác nhưng chủ nhân trang đó được gắn thẻ.
Nhân vật nổi tiếng thì bị kêu gọi tẩy chay. Những người không nổi tiếng thì bị lên án. Nhưng câu chuyện của họ đều được “viral” (lan truyền) trên tất cả các hội nhóm, nhảy sang cả nền tảng mạng xã hội khác và xuất hiện trên mặt báo.
Sức mạnh của những làn sóng phẫn nộ này là thứ không thể bị xem thường. Quay trở lại 10 năm trước, không ai có thể tưởng tượng được Facebook sẽ trở thành một miền đất như vậy.
Bởi thế, nhiều người đã vô tư phát ngôn mọi thứ, từ góc nhìn cá nhân cho tới quan điểm chính trị, không biết rằng 10 năm sau, chính những phát ngôn này sẽ bị lục lại và biến họ trở thành nạn nhân của những làn sóng phẫn nộ.
Ảnh minh họa.
Nhìn vào lịch sử của Facebook, icon “phẫn nộ” chỉ được Facebook giới thiệu từ năm 2015, bên cạnh nút “thích” vốn đã tồn tại từ năm 2010, và các biểu tượng cảm xúc mới khác là “trái tim”, “haha”, “wow”, “buồn” và “yay”.
“Yay” sau này bị khai tử vì nó là tiếng lóng của “cacaine”. Facebook đã thử nghiệm một số biểu tượng cảm xúc mới khác trước khi thay thế nó bằng “thương thương”, hình một icon ôm trái tim nhỏ.
Ra mắt vào năm 2020, đúng mùa dịch COVID-19, icon “thương thương” đã tạo nên một cơn sốt vì sự đáng yêu của nó. Người người, nhà nhà mong chờ bản cập nhật mới, để có thể thả “thương thương”, để có thể trao đi những cái ôm online trong mùa dịch.
Nhưng thời gian cuối cùng đã chứng minh, sức hút của những cái ôm yêu thương chỉ là nhất thời. Thay vào đó, “phẫn nộ” mới là biểu tượng trường tồn nhất của Facebook, đằng sau nút “thích” của họ.
Bởi như một định lý trên mạng xã hội, mọi người sẽ không bao giờ ngừng phẫn nộ.
Điều gì khiến chúng ta phẫn nộ?
Có một sự thật là không phải chờ đến năm 2016, khi Facebook giới thiệu biểu tượng cảm xúc mới trên nền tảng của họ, loài người mới biết phẫn nộ.
Các nhà tâm lý học định nghĩa “phẫn nộ” là một sự tức giận dữ hội không thể kiểm soát. Và họ cho rằng cảm xúc này xuất phát từ một khái niệm chuyên môn gọi là “ác cảm với bất công”.
Đúng vậy, loài người chúng ta phẫn nộ khi nhìn thấy sự bất công và chúng ta bắt đầu nhận biết được thứ gì đó là bất công ngay từ năm 3 tuổi.
Cảm xúc “phẫn nộ” được Facebook giới thiệu từ năm 2015,
Hiểu một cách đơn giản, bất công xảy ra khi bạn đầu tư cùng một lượng công sức so với người khác, nhưng lại nhận được ít phần thưởng hơn người đó. Hoặc khi các phần thưởng trả về cho tỷ lệ cống hiến của mỗi người không tương xứng với công sức mà họ bỏ ra.
Hai người tiền sử cùng đi săn một đàn hươu nhưng một người lại nhận được nhiều thịt hươu hơn. Hai đứa trẻ cùng học một lớp nhưng một đứa trẻ lại nhận được nhiều kẹo hơn. Hai nghệ sĩ có tài năng nhưng người có thái độ xấu hơn cuối cùng lại nổi tiếng hơn…
Đó là những ví dụ cho những sự bất công tồn tại từ thời tiền sử cho tới tận bây giờ. Nhưng các nhà tâm lý học cho rằng “ác cảm với bất công” còn có tuổi đời lâu hơn thế. Cụ thể, các thí nghiệm trên khỉ, chó và chim cho thấy những loài động vật này cũng biết phẫn nộ.
Frans de Waal, nhà linh trưởng học người Mỹ gốc Hà Lan từng giới thiệu một thí nghiệm kinh điển chứng minh cho dạng thức đơn giản nhất của sự phẫn nộ trên động vật. Trong thí nghiệm này, ông bắt 2 con khỉ làm cùng một nhiệm vụ, bỏ cùng một mức độ công sức và rồi thưởng cho chúng cùng một phần thưởng – mỗi con được một miếng dưa chuột.
Mọi thứ đến đây đều tuyệt vời. Những con khỉ sẽ ngấu nghiến miếng dưa mà chúng nhận được. Nhưng sau đó, De Waal cố tình thay đổi cách trao thưởng. Vẫn những nhiệm vụ đó, nhưng bây giờ, một con khỉ được thưởng một quả nho – ngọt hơn nhiều – còn con khỉ còn lại vẫn nhận được dưa chuột.
De Waal đề xuất rằng tính ác cảm với bất công nảy sinh ở con người và các loài động vật để củng cố sự hợp tác trong xã hội. Tất cả các xã hội dù là động vật hay con người, dù là tiền sử hay hiện đại đều hoạt động dựa trên sự hợp tác. Và nền tảng của sự hợp tác là mọi người phải nhận được phần thưởng công bằng.
Nếu hợp đồng công bằng đó trong xã hội bị phá vỡ, sự bất công sẽ bị đáp trả bằng một hình phạt để ngăn chặn sự sụp đổ của khế ước cơ bản giữ cho xã hội đó tồn tại – đó là sự công bằng.
Do đó, bất cứ ai gây ra sự bất công đều sẽ phải bị trừng phạt. Và người ta thậm chí còn trừng phạt cả những người đã gây ra bất công cho người khác, dù họ không phải là nạn nhân.
Các nhà thần kinh học đã tìm thấy một vùng trong não bạn có thể bị kích hoạt để nhận diện sự bất công và phản ứng với nó. Đảo não trước và hạch hạnh nhân, vùng xử lý những cảm xúc phức tạp của con người, sẽ sáng lên dưới máy cộng hưởng từ khi bạn nhìn thấy một sự bất công.
Những mạch cảm xúc này trong não bộ sẽ được kích hoạt ngay tức thì khi bạn đọc được một câu chuyện hàm chứa sự bất công trên Facebook. Và bạn sẽ chiến đấu vì sự bất công đó, bằng cách trừng phạt người tạo ra bất công, đầu tiên chính là bằng icon “phẫn nộ”.
1 phẫn nộ bằng 5 lượt thích: Facebook rất thích bạn phẫn nộ
Quay trở lại thời điểm năm 2015, khi Facebook giới thiệu bộ biểu tượng cảm xúc mới của mình, họ đã không làm điều đó một cách ngẫu nhiên. Ý tưởng phải thay thế nút “thích”- được cho là đã quá già cỗi và nhàm chán trên nền tảng – đã được Chris Cox, giám đốc sản phẩm của họ, nhen nhóm.
Thời điểm đó, hơn 1 tỷ người dùng Facebook đang nhấn vào nút “thích” trung bình 6 tỷ lượt mỗi ngày – nhiều hơn cả số lượt tìm kiếm trên Google được thực hiện trong vòng 24 giờ.
Nút “thích” vẫn là trái tim của Facebook, nó quyết định đến thuật toán, doanh số và hàng nghìn tỷ USD mỗi quý đổ về công ty. Nút “thích” là biểu tượng của nền văn minh Facebook mà nếu ai đó nói nền tảng xã hội này là một quốc gia lớn nhất hành tinh, quốc kỳ của nó hẳn phải là nút “thích.
Sự thật là Facebook đã cho dựng một biểu tượng nút “thích” khổng lồ ngay ngoài lối vào trụ sở của mình tại Menlo Park, California.
Nếu ai đó nói Facebook là một quốc gia lớn nhất hành tinh, quốc kỳ của nó hẳn phải là nút “thích.
Cox là người đầu tiên nhận ra thực tế rằng nút “thích” vẫn là một công cụ quá thô sơ và vụng về trên Facebook. Khi một người dùng đăng một bài viết, tấm ảnh hay ghi chú nào đó, những người khác chỉ có thể lựa chọn “thích” hoặc bỏ qua không thích bài viết.
Nhưng khao khát thể hiện cảm xúc của người dùng mạng xã hội vượt ra ngoài hai lựa chọn đó. Và thế là Cox đã tổ chức một cuộc họp với 6 giám đốc điều hành của Facebook ở Four Seasons Silicon Valley, cách trụ sở chính 10 phút lái xe và nói rằng họ phải cải tiến nút “thích”.
Cuộc cách mạng được ví như Coca-Cola cải tiến công thức bí mật của mình. Và khi Mark Zuckerberg nhận được báo cáo về cuộc họp, anh ấy đã nói với Cox đại loại: “Được cứ làm đi”, và “Chúc may mắn, Cox”.
Để cải tiến nút “thích”, Chris Cox đã tập hợp một nhóm các nhà tâm lý học và xã hội học hàn lâm để quét qua toàn bộ các cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố của con người. Một trong số đó có cả sự tham gia của giáo sư tâm lý học Dacher Keltner đến từ Đại học California, người từng làm cố vấn cho bộ phim “Inside Out” của Pixar.
Keltner và các cộng sự của ông đã liệt kê ra tổng cộng 25 cung bậc cảm xúc tất cả của con người – từ sự sung sướng tột độ, cảm giác sợ hãi, sự tự tin, xấu hổ, cảm giác trung tính cho đến một cái thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng vì sự giới hạn của nền tảng, Cox biết mình không thể nhé toàn bộ 25 icon bên cạnh nút “thích” được. Thế là những cuộc bỏ phiếu liên miên trong nội bộ Facebook và tổ tư vấn xã hội của họ đã được thực hiện. Danh sách dần dần được rút xuống chỉ còn 6 biểu tượng: “trái tim”, “haha”, “yay”, “wow”, “buồn” và “phẫn nộ”.
Ý tưởng được Mark Zuckerberg thông qua và Facebook chính thức ra mắt bản cập nhật 6 biểu tượng cảm xúc nào vào năm 2015.
Mark Zuckerberg và Chris Cox, người đã thêm nút “phẫn nộ” vào Facebook.
Tại thời điểm đó, các biểu tượng đã tạo ra một cơn địa chấn trên nền tảng. Kể từ bây giờ, người dùng Facebook có thể mở rộng lựa chọn tương tác của mình. Họ có thả tim, cười haha, thể hiện sự ngạc nhiên hoặc phẫn nộ với bài đăng của người khác.
Đổi lại, Facebook cũng thu được một kho dữ liệu cảm xúc khổng lồ từ phía người dùng. Họ phân tích số lượt thả cảm xúc của người dùng để đề xuất trang “News Feed” cho họ, mục đích bên ngoài họ nói là để phục vụ người dùng tốt hơn, nhưng mục tiêu ẩn giấu cuối cùng vẫn là giữ chân người dùng trên nền tảng để bán quảng cáo.
Tại đây, các phân tích kỹ thuật cho thấy mỗi lượt thả phẫn nộ có giá trị gấp 5 lần lượt “thích”. Nói cách khác, các bài viết tạo ra phẫn nộ đang giữ chân người dùng Facebook gấp 5 lần. Con số chỉ là 2 lần khi nói đến biểu tượng cảm xúc “trái tim”, thứ mà cố vấn xã hội học Keltner của Facebook từng tự tin rằng nó sẽ phải chiếm trọng số cao nhất.
Sự thật hóa ra không phải vậy, cảm xúc phẫn nộ mới là thứ giữ chân người dùng trên nền tảng lâu hơn và đem về doanh số cao hơn cho công ty. Có thời điểm, chính Mark Zuckerberg cũng công khai khuyến khích người dùng thả phẫn nộ nhiều hơn mỗi khi họ không thích bài đăng nào đó. Dù điều này sẽ khiến các dạng bài tương tự xuất hiện trên bảng tin của họ nhiều hơn.
Khi sự phẫn nộ trên mạng xã hội trở nên mất kiểm soát
Quay trở lại với cảm xúc phẫn nộ của con người. Tâm lý học nói rằng những cơn phẫn nộ được kích hoạt bởi cảm giác đối mặt với bất công, và thêm vào đó là sự bất công “có thể kiểm soát được”.
Nhưng thế nào là sự bất công có thể kiểm soát? Hãy tưởng tượng một người tiền tử đang đi săn linh dương thì cũng bắt gặp một con sư tử cũng đi săn con linh dương đó.
Người tiền sử đã dành cả một ngày trời để đuổi theo con linh dương cho tới khi nó mỏi mệt, chỉ để bị con sư tử vồ lấy, cuỗm mất con mồi ngon lành đáng ra là của người tiền sử.
Ảnh minh họa.
Lúc này, anh ấy có phẫn nộ không? Câu trả lời là: Có! Chúng ta nhìn thấy một sự không công bằng rõ ràng ở đây. Nhưng cơn phẫn nộ của anh anh ấy có thể kiểm soát không? Câu trả lời là: Không! Anh ta sẽ không thể làm gì con sư tử, bởi nếu làm gì nó, anh ấy có thể sẽ phải trả giá đắt.
Sự bất công cộng với sợ hãi sẽ không khiến người tiền sử có bất kỳ hành động gì với con sư tử ở ngoài đời thật. Nhưng hãy tưởng tượng nếu anh ta trở về hang động, bật máy tính và viết “status” kể về câu chuyện đi săn ngày hôm nay. Tất cả những người dùng Facebook ở các bộ tộc khác sẽ thả icon “phẫn nộ” và đồng cảm với anh ấy.
Họ sẽ tràn vào tường nhà của con sư tử để thả “phẫn nộ”, lên án nó và tẩy chay nó.
Có thể thấy, mạng xã hội đang cung cấp cho loài người một môi trường trực tuyến rất an toàn để thể hiện sự phẫn nộ của mình. Không ngạc nhiên khi một nghiên cứu trên tạp chí Science Advances kết luận rằng mạng xã hội đang khiến loài người phẫn nộ nhiều hơn bao giờ hết.
Sử dụng phần mềm học máy, các nhà nghiên cứu đã phân tích 12,7 triệu tweet từ 7.331 người dùng Twitter thu thập được trong một số sự kiện gây tranh cãi ngoài đời thực, từ tranh chấp về tội ác thù hận đến xô xát trên máy bay.
Họ đánh giá cách hành vi của người dùng mạng xã hội theo thời gian và kiểm tra xem các thuật toán mạng xã hội thưởng cho người dùng thế nào khi họ thể hiện sự phẫn nộ.
Kết quả cho thấy: “Sự khuếch đại của sự phẫn nộ về mặt đạo đức là hậu quả rõ ràng của mô hình kinh doanh của phương tiện truyền thông xã hội, mô hình này tối ưu hóa cho sự tham gia của người dùng”, đồng tác giả Molly Crockett, phó giáo sư tâm lý học tại Đại học Yale cho biết.
Điều đó có nghĩa là càng có nhiều câu chuyện phẫn nộ trên mạng xã hội thì nó càng giữ chân được người dùng.

Các tài liệu nội bộ của công ty bị lộ cho thấy trong giai đoạn từ năm 2017, Facebook đã chủ động đẩy hàng loạt nội dung phẫn nộ lên bảng tin của người dùng để câu kéo cảm xúc và thời gian sử dụng của họ.
Mặc dù nghiên cứu này tập trung vào Twitter, hiện đã được đổi tên thành X, nhưng nó cũng đúng với Facebook với biểu tượng cảm xúc “phẫn nộ” của nền tảng của mình. Các tài liệu nội bộ của công ty bị lộ cho thấy trong giai đoạn từ năm 2017, Facebook đã chủ động đẩy hàng loạt nội dung phẫn nộ lên bảng tin của người dùng để câu kéo cảm xúc và thời gian sử dụng của họ.
Đến nỗi, Frances Haugen, một nhà khoa học dữ liệu đã đứng giữa Quốc Hội Anh và tuyên bố rằng: “Sự tức giận và thù hận là cách dễ nhất để đưa Facebook phát triển”.
Đối mặt với những áp lực yêu cầu Facebook phải sửa đổi thuật toán, công ty này đã án binh bất động cho tới khi chính họ phát hiện ra rằng việc đề cao sự phẫn nộ đang gây hại cho nền tảng.
Việc Facebook ủng hộ các bài đăng gây phẫn nộ đã khiến hoạt động spam, lạm dụng và clickbait (mồi nhử nhấp chuột) xảy ra tràn lan trên nền tảng. Đến năm 2019, chính những nhà khoa học dữ liệu của công ty xác nhận các bài đăng nhiều lượt phẫn nộ thường có chất lượng thấp, chứa thông tin sai lệch và độc hại.
Do đó, họ đã điều chỉnh lại trọng số của cảm xúc “phẫn nộ” từ 5 về 1 để bảo vệ nền tảng của mình.
Nhưng làn sóng phẫn nộ vẫn không biến mất
Có thể coi việc Facebook giới thiệu biểu tượng cảm xúc “phẫn nộ” giống như một thanh kiếm của Samurai, mà một khi nó đã được rút ra thì sẽ phải nhuốm máu. Nó cũng có thể được coi là một chiếc hộp Pandora, mà một khi đã được mở ra sẽ đem đến rất nhiều tai ương trên nền tảng.
Vốn là một cảm xúc mạnh mẽ, sự phẫn nộ thúc đẩy con người trừng phạt những kẻ vi phạm chuẩn mực đạo đức. Mặc dù phẫn nộ có thể đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sự hợp tác và giữ cho các hành vi xấu bị trừng phạt, nó cũng mang lại nhiều hệ lụy tiêu cực, làm trầm trọng thêm xung đột xã hội và có thể dẫn đến những cuộc chiến đòi công lý dựa trên thông tin sai lệch.
Internet làm gia tăng các vụ việc gây phẫn nộ so với ngoài đời thực và các nền tảng truyền thông khác.
Trước khi Internet xuất hiện, thông tin về các vi phạm chuẩn mực đạo đức thường được lan truyền thông qua lời đồn đại trong các mạng xã hội nhỏ lẻ, nhằm củng cố sự tin tưởng và hợp tác trong cộng đồng.
Tuy nhiên, các nền tảng trực tuyến hiện nay đã thay đổi sâu sắc động lực của việc chia sẻ thông tin. Với sự xuất hiện của các thuật toán tối ưu hóa việc thu hút sự chú ý để tạo ra doanh thu quảng cáo, nội dung gây phẫn nộ dễ dàng được lan truyền rộng rãi tới một số lượng lớn công chúng bất kể lợi ích của người chia sẻ hay thậm chí là độ chính xác của thông tin đó.
Chỉ với một vài cú nhấp chuột, người ta có thể lan truyền sự phẫn nộ của mình đến một lượng lớn người khác, thông qua những câu chuyện cá nhân. Điều này không chỉ dễ dàng mà còn mang lại nhiều lợi ích cho người chia sẻ, chẳng hạn như tăng cường danh tiếng cá nhân trên mạng hay cảm giác tự hào vì đã góp phần bảo vệ các chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Thế nhưng, việc đơn giản hóa hành vi phẫn nộ trên mạng xã hội có thể làm giảm chính chức năng tiến hóa của sự phẫn nộ ngoài đời thực.
Bởi bây giờ, phẫn nộ chỉ đơn giản là thả một icon trên điện thoại, vào lục tung trang cá nhân của ai đó và chia sẻ các nội dung kích thích “chiến tranh” trên mạng, nó có thể gây chia rẽ cộng đồng và khiến mọi người ít tham gia vào các hoạt động thiết thực hơn.
Chẳng hạn, nhiều người cho rằng mình đã thể hiện sự yêu nước bằng cách tấn công một ai đó trên mạng xã hội, thay vì tham gia các hoạt động thiện nguyện, đóng thuế hay hiến máu.
Sự phẫn nộ không đáng có sẽ gây ra hậu quả cho những người có hành vi không thực sự bất công, hoặc thậm chí là nạn nhân của tin giả hoặc thông tin sai lệch.
Ngoài ra, các nền tảng mạng xã hội còn có thể khuyến khích việc thể hiện sự phẫn nộ một cách thường xuyên và mất kiểm soát. Nó tạo ra một hiện tượng gọi là “giảm ngưỡng” cho các hành vi đáng phải nhận sự phẫn nộ.
Một số hành vi của một số người trên mạng xã hội không đáng bị lên án, nhưng bởi phần thưởng tiềm năng mà một số người có thể nhận được là quá lớn, chẳng hạn như củng cố hình ảnh cá nhân của họ trên mạng xã hội, những người này sẽ khuếch đại một số hành vi quá mức tạo ra những cơn “phẫn nộ ảo” và kêu gọi mọi người cùng tham gia vào với mình.
Vòng phản hồi tích cực của mạng xã hội khiến ngưỡng phẫn nộ giảm xuống đến một mức nào đó, nó có thể kích hoạt những sự phẫn nộ không đáng có, gây ra hậu quả không đáng có cho những hành vi không thực sự là bất công, hoặc thậm chí dựa trên tin giả hoặc thông tin sai lệch.
Tóm lại, mặc dù sự phẫn nộ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực xã hội, một khế ước về sự công bằng, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ về những rủi ro mà nó mang lại trong bối cảnh của kỷ nguyên số.
Các nền tảng trực tuyến như Facebook không chỉ khuếch đại các kích thích gây phẫn nộ mà còn thay đổi cách mà chúng ta trải nghiệm và thể hiện cảm xúc này. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn có thể gây ra những hệ lụy rộng lớn đối với toàn xã hội.
Tổng hợp
Tâm Lý Học NTD
Gen Z và xu hướng Quiet Luxury: Khi sự giàu có là không phô trương
Không logo lớn, không khoe mẽ trên mạng xã hội, Quiet luxury đang trở thành lựa chọn của giới giàu và đặc biệt là thế hệ Gen Z trong kỷ nguyên công nghệ.
Trong một thế giới nơi mạng xã hội khuyến khích con người khoe mọi thứ, từ bữa ăn, chuyến du lịch cho tới tài sản cá nhân, thì sự im lặng lại bất ngờ trở thành một dạng “xa xỉ” mới. Quiet luxury, hay xa xỉ thầm lặng, không còn là khái niệm chỉ gắn với giới thượng lưu truyền thống, mà đang dần trở thành một xu hướng được Gen Z đón nhận mạnh mẽ, đặc biệt ở các đô thị lớn và cộng đồng sáng tạo.
Khác với hình ảnh xa xỉ phô trương từng thống trị nhiều năm trước, Quiet luxury không tìm cách gây chú ý. Nó thể hiện qua chất liệu tốt, thiết kế bền bỉ, màu sắc trung tính và những chi tiết tinh tế chỉ người hiểu mới nhận ra. Một chiếc áo len cashmere trơn, một chiếc áo khoác dáng cổ điển hay một chiếc túi da không logo có thể trông “bình thường” trên ảnh mạng xã hội, nhưng lại mang giá trị rất khác trong đời sống thật.
Điều đáng chú ý là chính Gen Z, thế hệ lớn lên cùng mạng xã hội, lại là nhóm bắt đầu quay lưng với việc khoe khoang quá mức. Sau giai đoạn “flex culture” bùng nổ, nhiều người trẻ nhận ra áp lực so sánh, rủi ro về riêng tư và sự mệt mỏi khi phải liên tục chứng minh bản thân. Quiet luxury vì thế trở thành lựa chọn ngược dòng: ít nói, ít phô trương, nhưng sâu sắc và có chủ đích.
Tinh thần này cũng phản chiếu rõ trong cách Gen Z tiếp cận công nghệ. Những sản phẩm được yêu thích nhất hiện nay thường không quá hào nhoáng về hình thức, mà tập trung vào trải nghiệm, độ ổn định và tính riêng tư. Quyền lực không còn nằm ở việc “nhìn là biết đắt”, mà ở việc dùng lâu, dùng tốt và không bị phụ thuộc vào ánh nhìn của người khác.
Hình ảnh “thẻ đen” ngân hàng là một ẩn dụ thú vị cho Quiet luxury. Không nhiều người từng thấy, càng ít người biết điều kiện để sở hữu, nhưng nó đại diện cho một tầng quyền lực không cần quảng cáo. Chủ nhân của nó hiếm khi rút ra để gây chú ý, nhưng khi cần, những đặc quyền phía sau là điều không phải ai cũng chạm tới. Với Gen Z có định hướng tài chính rõ ràng, đây là kiểu quyền lực hấp dẫn hơn việc khoe giàu tức thì.
Trong bối cảnh dữ liệu cá nhân ngày càng có giá trị, việc sống kín đáo cũng trở thành một chiến lược. Nhiều người trẻ hạn chế chia sẻ vị trí, không công khai tài sản, không biến đời sống cá nhân thành nội dung. Giống như cách họ chọn quần áo không logo, họ cũng chọn một cuộc sống “ít ồn” để giữ an toàn và tự do cho chính mình.
Quiet luxury còn phản ánh sự thay đổi trong tư duy tiêu dùng của Gen Z. Thay vì mua nhiều theo trào lưu, họ mua ít hơn, chọn kỹ hơn, ưu tiên độ bền và giá trị lâu dài. Điều này rất giống với cách các công ty công nghệ lớn đầu tư vào nền tảng cốt lõi thay vì chạy theo xu hướng ngắn hạn. Sự ổn định và khả năng đi đường dài mới là thứ đáng giá
Sau cùng, Quiet luxury không phải là lời khẳng định “tôi giàu”, mà là một tuyên ngôn sống: không cần phải chứng minh quá nhiều với thế giới. Khi đã hiểu mình là ai và cần gì, con người ta có xu hướng im lặng hơn, chọn lọc hơn và vững vàng hơn.
Và có lẽ, trong kỷ nguyên số đầy tiếng ồn, sự im lặng có chủ đích chính là biểu hiện rõ ràng nhất của quyền lực, đặc biệt với thế hệ Gen Z.
Tâm Lý Học NTD
Gen Z Việt Nam và cuộc đua “giàu nhanh”: áp lực tài chính, so sánh xã hội và cách họ tự cứu mình
Thế hệ Gen Z Việt Nam đang sống giữa kỳ vọng thành công sớm, chi phí sinh hoạt leo thang và mạng xã hội khuếch đại hình mẫu giàu có. Áp lực “phải giàu nhanh” không chỉ là câu chuyện tâm lý mà còn là bài toán tài chính, nghề nghiệp và cách mỗi người chọn đối phó.
Nếu Millennials lớn lên cùng lời khuyên “ổn định rồi tính”, Gen Z lại trưởng thành trong thời kỳ kinh tế biến động nhanh, giá tài sản tăng mạnh và mạng xã hội đẩy chuẩn mực thành công lên cao hơn bao giờ hết. Với Gen Z, thành công không chỉ là có việc làm tốt mà còn phải tích lũy tài sản sớm, phát triển nhiều nguồn thu nhập và thể hiện được phong cách sống đáng mơ ước. Trong bối cảnh này, áp lực “phải giàu nhanh” trở thành cảm nhận chung, vừa đến từ thực tế vừa đến từ so sánh xã hội liên tục.
Áp lực tài chính lẫn kỳ vọng xã hội đang siết Gen Z
Áp lực giàu nhanh trước hết xuất phát từ thực tế kinh tế nhiều thách thức. Giá nhà, xe, dịch vụ và tiêu dùng đều tăng nhanh hơn tốc độ thu nhập trung bình của lao động trẻ. Các khảo sát gần đây tại thị trường Việt Nam cho thấy Gen Z nằm trong nhóm kém an toàn về tài chính, với tỷ lệ cảm nhận bất ổn cao hơn các thế hệ trước. Nhiều người trẻ thú nhận họ cảm thấy khó lập kế hoạch dài hạn khi chi phí sinh hoạt đã chiếm phần lớn thu nhập.
Một sinh viên mới ra trường chia sẻ: “Em không đặt mục tiêu mua nhà ngay, nhưng mọi người xung quanh đều nói nếu không cố thì sau này càng khó. Tự nhiên em thấy bị chậm hơn so với bạn bè, dù mới đi làm được một năm.” Câu chuyện này không hiếm, khi kỳ vọng tự lập tài chính trước tuổi 30 xuất hiện ngày càng phổ biến, tạo ra một chuẩn mực mới mà thế hệ trước không phải đối mặt.
Bên cạnh yếu tố kinh tế, mạng xã hội là chất xúc tác mạnh mẽ. Hình ảnh người trẻ thành công sớm, sở hữu lifestyle cao cấp, du lịch nhiều và có thu nhập từ nhiều nguồn đã trở thành thước đo mặc định trên TikTok và Instagram. Ở chiều ngược lại, những người chưa đạt được thành tựu có xu hướng tự so sánh, dẫn đến FOMO và cảm giác “phải làm nhiều hơn nữa để không bị bỏ lại phía sau”. Một kỹ sư Gen Z bộc bạch: “Không ai bắt em giàu nhanh cả, nhưng nhìn người ta thành công thì em cảm giác mình đang lãng phí thời gian.”
Tuy nhiên, áp lực giàu nhanh không chỉ là ảo tưởng. Gen Z cũng là thế hệ có tiếp cận tài chính và đầu tư sớm hơn, thể hiện qua việc tiết kiệm, đầu tư, làm thêm và khai thác nguồn thu nhập mới từ công nghệ, thương mại điện tử hay sáng tạo nội dung. Đây vừa là phản ứng với bối cảnh kinh tế, vừa là cách họ tìm hướng đi dài hơi. Điều này cho thấy áp lực không chỉ đến từ việc muốn hơn người khác, mà còn đến từ nỗi lo không đủ để sống tốt trong tương lai.
Từ chật vật đến chủ động: Gen Z đang tự định nghĩa lại con đường làm giàu
Dù phải đối mặt với nhiều bất lợi, thế hệ Gen Z không hoàn toàn bị động. Nhiều khảo sát cho thấy họ bắt đầu tiết kiệm từ rất sớm, lên kế hoạch tài chính cá nhân và tham gia đầu tư phổ thông như gửi tiết kiệm, chứng khoán, tài sản số hay khởi nghiệp nhỏ. Với Gen Z, tự do tài chính không chỉ là con số mà còn là khả năng lựa chọn và kiểm soát cuộc sống.
Một bạn nữ 24 tuổi làm sáng tạo nội dung cho biết: “Em không muốn giàu nhanh theo kiểu may rủi. Em muốn có tiền đủ để không phụ thuộc ai, có thể nghỉ vài tháng để học cái mới mà không lo nợ.” Đây là góc nhìn cho thấy sự dịch chuyển giá trị, khi mục tiêu không chỉ là giàu mà là tự do và linh hoạt.
Song song với sự chủ động, Gen Z cũng đối mặt với những giới hạn riêng. Nhiều người chưa có kiến thức tài chính đủ vững nhưng vẫn tham gia thị trường đầu tư vì sợ bỏ lỡ cơ hội. Một số bị cuốn vào giao dịch nhanh, đầu tư nóng và kỳ vọng lợi nhuận cao trong thời gian ngắn. Khi thất bại, họ lại rơi vào vòng lặp so sánh và mất tự tin. Áp lực giàu nhanh vì thế trở thành con dao hai lưỡi, vừa thúc đẩy học hỏi vừa dễ tạo ra sự bào mòn tâm lý.
Về lâu dài, cách Gen Z đối phó với áp lực này sẽ góp phần định hình lại quan niệm về giàu có. Thay vì mô hình truyền thống “đi làm – thăng chức – mua nhà”, nhiều người chọn sự đa dạng trong nguồn thu, ưu tiên cân bằng và trải nghiệm, chấp nhận thay đổi nghề nghiệp và học kỹ năng mới. Con đường giàu có vì vậy không còn là một lộ trình tuyến tính mà linh hoạt hơn, rủi ro hơn nhưng cũng mở rộng hơn.
Áp lực phải giàu nhanh phản ánh sự giao thoa giữa kỳ vọng xã hội, thực tế kinh tế và tâm lý thế hệ trong thời kỳ chuyển đổi. Với Gen Z Việt Nam, đó vừa là thách thức vừa là động lực. Họ có thể chưa sở hữu nhiều tài sản, nhưng lại sở hữu sự nhạy bén, tốc độ thích ứng và tư duy tài chính sớm hơn. Cách họ lựa chọn cân bằng giữa tham vọng và khả năng sẽ định nghĩa lại tiêu chuẩn thành công trong thập kỷ tới.
Tâm Lý Học NTD
1,4 triệu thanh niên ba không
Ba tháng cuối năm 2025, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên trong tình trạng ba không: không việc làm, không học tập, không tham gia đào tạo nghề, chiếm 10% tổng số thanh niên.
Theo báo cáo tình hình lao động, việc làm quý 4 năm nay của Cục Thống kê, số thanh thiếu niên (tuổi 15-24) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo giảm 169.000 người so với quý trước nhưng tăng 124.000 người so với cùng kỳ năm 2024.
Tỷ lệ thanh niên “ba không” ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị, lần lượt là 11,7% và 8%. Nữ thanh niên chiếm tỷ lệ cao hơn nam, ở mức 12% so với 8,3%.
Cục Thống kê cho biết tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên độ tuổi 15-24 trong quý tư 2025 ở mức 9%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước, đồng thời tăng so với quý ba 2025 và cùng kỳ năm trước. Riêng khu vực thành thị, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên vượt 11%.
Theo cơ quan thống kê, tỷ lệ thất nghiệp và số thanh niên “ba không” duy trì ở mức cao phản ánh những khó khăn của người trẻ trong quá trình tìm kiếm việc làm. Do đó, cơ quan chức năng cần chú trọng phân luồng sớm, định hướng học tập và nghề nghiệp phù hợp năng lực cá nhân, đồng thời tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Nhìn ra các nước trong khu vực, tỷ lệ này ở mức tương đương hoặc thấp hơn.
Tại Thái Lan, tỷ lệ “ba không” (NEET) của thanh niên dao động trong khoảng 12,8–15% theo số liệu thống kê năm 2024 của WorldBank và UNICEF. Tại Indonesia, con số lên tới 17–18%, đưa nước này vào nhóm các nước Đông Nam Á có tỷ lệ thanh niên “ba không” cao nhất. Philippines cũng có tỷ lệ NEET 12–13%, tập trung chủ yếu vào nhóm thanh niên ở khu vực đô thị nghèo.
Tại Trung Quốc, nguyên nhân hình thành NEET lại tương đối đặc thù. Theo ILO, tỷ lệ ba không của thanh niên Trung Quốc gần đây dao động khoảng 15–17%, cao hơn Việt Nam nhưng thấp hơn mức trung bình toàn cầu.
Tính chung ở các độ tuổi, quý tư 2025 cả nước ta ghi nhận 2,14 triệu người, tương đương 4% lực lượng lao động, không được sử dụng hết tiềm năng. Tỷ lệ này ở thành thị là 3,8% và nông thôn hơn 4%. Nhóm này gồm người thất nghiệp, thiếu việc làm và ngoài lực lượng lao động nhưng sẵn sàng làm việc.
Cục Thống kê nhận định trong điều kiện kinh tế bình thường, lực lượng lao động không được sử dụng hết tiềm năng luôn tồn tại và thường tăng khi nền kinh tế chịu các cú sốc lớn. Thực tế, tỷ lệ này tăng mạnh từ quý I/2020, đạt đỉnh vào quý III/2021, sau đó giảm dần và dao động quanh mức 4%.
Nhìn chung, thị trường lao động quý IV/2025 cơ bản ổn định song vẫn xuất hiện một số dấu hiệu cần theo dõi khi số người thiếu việc làm tăng nhẹ. Cụ thể, khoảng 784.000 người thiếu việc làm, tăng 88.000 so với quý III/2025 và hơn 19.000 người so với cùng kỳ năm 2024.
Ver2Solution theo VNexpress
-
Trong Nước10 tháng agoBáo cáo thị trường nước hoa Việt Nam 2023-2025
-
Trong Nước9 tháng agoBáo cáo thị trường trang sức Việt Nam 2023-2025
-
Các Nền Tảng MXH9 tháng agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (18/5-24/5/2025)
-
Livestream10 tháng agoKhi ông chủ buộc phải livestream bán hàng
-
Công Nghệ Phần Mềm9 tháng agoSEEDANCE 1.0 CỦA BYTEDANCE ĐỐI ĐẦU VỚI GOOGLE VEO 3
-
Các Nền Tảng MXH10 tháng agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (4/5-10/5/2025)
-
Livestream8 tháng agoTài liệu nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm ngẫu hứng của người tiêu dùng
-
Các Nền Tảng MXH10 tháng agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (11/5-17/5/2025)





