Connect with us

Trong Nước

Việt Nam có 5 triệu hộ kinh doanh nhưng không ai được vay vốn dưới tên ‘hộ kinh doanh’

Published

on

Góp 40% GDP, tạo việc làm cho hơn 40 triệu người, nhưng Việt Nam có 5 triệu hộ kinh doanh lại không thể vay vốn ngân hàng. Chỉ vì một điều: họ không có tư cách pháp nhân. Một rào cản nhỏ đang chặn lối một nguồn lực lớn của nền kinh tế.

Tại Hội thảo “Vốn ngân hàng góp phần thúc đẩy kinh tế tư nhân” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 21/03/2025, với sự tham gia của Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Đào Minh Tú, TS. Lê Duy Bình – Giám đốc Economica Việt Nam, cùng nhiều chuyên gia, doanh nhân và đại diện tổ chức tín dụng, một câu hỏi gai góc được nêu ra trực diện:

Vì sao Việt Nam có hơn 5 triệu hộ kinh doanh – lực lượng đóng góp gần một nửa GDP – mà không ai trong số họ được đứng tên vay vốn ngân hàng? Câu trả lời nằm sâu trong một điểm nghẽn thể chế âm thầm nhưng đầy sức cản: hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân.

Hộ kinh doanh: lực lượng xương sống bị “vô danh hóa” trong thể chế

Theo TS. Lê Duy Bình, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 50% GDP, trong đó khối hộ kinh doanh cá thể – bao gồm hộ sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ lẻ, dịch vụ phi chính thức – chiếm tới 40%.

Khu vực này tạo ra sinh kế cho hơn 85% lực lượng lao động, tương đương hơn 40 triệu người, nhưng lại bị “vô hình hóa” trong các thiết chế pháp lý hiện hành. Từ năm 2015, Bộ luật Dân sự chỉ công nhận hai chủ thể pháp lý là cá nhân và pháp nhân, trong khi hộ kinh doanh bị gộp vào tư cách cá nhân, đồng nghĩa với việc không được đứng tên trong hợp đồng tín dụng, không thể đấu thầu, không thể ký kết giao dịch thương mại dài hạn.

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú nhìn nhận thực trạng một cách thẳng thắn: “Với gần một triệu doanh nghiệp và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh, khu vực tư nhân đang đóng góp gần 50% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm. Tuy nhiên, phần lớn lại là các đơn vị siêu nhỏ, sức cạnh tranh thấp và hiệu quả hoạt động còn hạn chế”. Ông nhấn mạnh vai trò trọng yếu của khu vực tư nhân và khẳng định ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh bằng các giải pháp tín dụng phù hợp hơn.

Việc thiếu địa vị pháp lý khiến hộ kinh doanh không thể xây dựng hồ sơ tín dụng, không có mã số thuế riêng, không có báo cáo tài chính độc lập, không có lịch sử tín dụng riêng biệt. Trong quản trị ngân hàng hiện đại, điều này khiến họ không thể được chấm điểm tín dụng nội bộ, dẫn đến việc bị xếp vào nhóm rủi ro cao, bị siết hạn mức vay, yêu cầu tài sản đảm bảo lớn và lãi suất cao. Không ít trường hợp bị loại khỏi danh sách cấp tín dụng, đơn giản chỉ vì không “được luật pháp thừa nhận” như một thực thể kinh doanh.

Tín dụng bị tắc, năng suất bị kìm, tăng trưởng bị trói

Theo NHNN, tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ tín dụng với khu vực doanh nghiệp tư nhân tại các tổ chức tín dụng đạt gần 7 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 44% dư nợ toàn hệ thống. Tuy nhiên, gần như toàn bộ khoản vay này rơi vào khoảng 1 triệu doanh nghiệp có đăng ký pháp lý chính thức, trong khi hơn 5 triệu hộ kinh doanh – chiếm tới 40% GDP – lại bị đứng ngoài dòng chảy tín dụng quốc gia.

TS. Lê Duy Bình chỉ rõ: “Đầu tư tư nhân hiện chiếm 56% tổng đầu tư toàn xã hội, tức khoảng 96 tỷ USD trong năm 2025, cao hơn nhiều so với đầu tư công (28%) và FDI (16%). Chỉ cần đầu tư tư nhân tăng 1%, thì phải cần đầu tư công tăng 2,5% và FDI tăng 3,5% mới có thể tạo ra hiệu ứng tương đương”. Tuy nhiên, khi phần lớn tư nhân lại bị bóp nghẹt dòng vốn do rào cản pháp lý, thì sức bật của đầu tư tư nhân sẽ không được hiện thực hóa.

Phó Thống đốc Đào Minh Tú khẳng định: “Chất lượng tín dụng khu vực tư nhân nói chung tốt, độ rủi ro thấp, nhưng rào cản thể chế khiến dòng vốn vẫn khó chảy đến đúng nơi cần. Đây là nghịch lý cần tháo gỡ bằng cải cách đồng bộ về chính sách, pháp luật và hệ thống tín dụng”. Ông cũng cho biết, các chương trình tín dụng đặc thù, lãi suất thấp cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh sẽ tiếp tục được ngành Ngân hàng triển khai mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Không có pháp nhân, không thể bước qua ngưỡng thể chế

Vấn đề lớn hơn của hộ kinh doanh không chỉ là tín dụng, mà là sự thiếu vắng vị trí trong toàn bộ hệ sinh thái kinh tế hiện đại. Khi không có tư cách pháp nhân, hộ kinh doanh không thể ký hợp đồng dài hạn, không có quyền khởi kiện độc lập trong tranh chấp thương mại, không được luật pháp bảo vệ quyền tài sản một cách đầy đủ.

TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng CIEM, gọi đây là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” và cho rằng phải “chuyển hệ thống pháp luật từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, tạo không gian pháp lý rộng mở, minh bạch, chi phí tuân thủ thấp và không có rủi ro pháp lý”.

Việt Nam có 5 triệu hộ kinh doanh nhưng không ai được vay vốn dưới tên ‘hộ kinh doanh’
TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) phát biểu tại Hội thảo.

Cấu trúc doanh nghiệp Việt Nam hiện cho thấy một sự thiếu vắng đáng lo ngại về tầng lớp trung gian. Trong số gần 940.000 doanh nghiệp đăng ký chính thức, có tới 97% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chỉ 1,5% là doanh nghiệp vừa và 1,5% là doanh nghiệp lớn. TS. Lê Duy Bình cảnh báo: “Nếu không có quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, sẽ không có lực lượng dự bị để hình thành doanh nghiệp cỡ vừa – mắt xích không thể thiếu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Một trong những đề xuất nổi bật tại Hội thảo là thiết lập mô hình pháp nhân đặc thù cho “doanh nghiệp siêu nhỏ”, áp dụng cơ chế sandbox cho tín dụng phi truyền thống như tín dụng theo dòng tiền, tín dụng theo hợp đồng đầu ra, bảo lãnh tín dụng cộng đồng. Những giải pháp này có thể mở ra cánh cửa cho hàng triệu hộ kinh doanh vốn đang bị bỏ lại phía sau.

Giải phóng 5 triệu hộ kinh doanh: Không thể trì hoãn

TS. Lê Duy Bình nhấn mạnh rằng: “Phát triển kinh tế tư nhân không thể chỉ dựa vào các tập đoàn lớn, mà phải quan tâm tới hộ kinh doanh – những chủ thể nhỏ nhưng giữ vai trò huyết mạch của nền kinh tế thực”. Theo ông, khu vực này đang tạo việc làm cho hơn 80% lực lượng lao động, giúp chuyển dịch hàng triệu lao động khỏi nông nghiệp, góp phần đưa số người tham gia bảo hiểm xã hội từ 9,2 triệu năm 2010 lên 17,5 triệu năm 2023, chiếm 38% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Nếu không chính thức hóa hộ kinh doanh, mục tiêu 60% lao động tham gia bảo hiểm xã hội vào năm 2030 theo Nghị quyết 28-NQ/TW sẽ không thể thành hiện thực. Quan trọng hơn, nền kinh tế sẽ tiếp tục duy trì cấu trúc “ba nền kinh tế trong một”: doanh nghiệp nhà nước – FDI – tư nhân phi chính thức, tách biệt, thiếu liên kết và không tạo hiệu ứng lan tỏa.

Phó Thống đốc Đào Minh Tú khẳng định: “Ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đồng hành với doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là nhóm nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh cá thể. Sẽ có thêm các chính sách tín dụng linh hoạt, giải pháp đánh giá rủi ro mới, và mô hình hợp tác để tăng khả năng tiếp cận vốn của nhóm này”.

Khi hơn 5 triệu hộ kinh doanh vẫn phải đi vay với tư cách “ông A, bà B” thay vì “cơ sở X”, “đơn vị Y”, thì nền kinh tế vẫn còn một khoảng tối lớn chưa được khai thông. Và chỉ khi họ được công nhận là một thực thể kinh tế chính thức, được bảo vệ quyền tài sản, được cấp vốn minh bạch, được ký hợp đồng thương mại, thì tiềm năng nội sinh của Việt Nam mới thực sự được giải phóng.

Khi đó, khát vọng tăng trưởng 8%/năm và mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 sẽ có một điểm tựa vững chắc từ chính nội lực – hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang âm thầm gánh vác nền kinh tế.

Theo Kienthucdautu

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trong Nước

Hải Phòng thúc đẩy phát triển thương mại điện tử

Published

on

Theo kế hoạch về phát triển thương mại điện tử trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2026 vừa được chính quyền thành phố ban hành, thành phố đặt mục tiêu duy trì tốc độ phát triển thương mại điện tử của Hải Phòng trong nhóm dẫn đầu cả nước.

Thành phố Hải Phòng kỳ vọng sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại điện tử thông qua các chỉ số định lượng cụ thể.

Theo đó, phấn đấu tỷ lệ dân số trưởng thành tham gia mua sắm trực tuyến đạt từ 65-68%; doanh số bán lẻ thương mại điện tử tăng trưởng mạnh mẽ từ 20-25% so với năm 2025, đóng góp khoảng 17-20% vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của thành phố; 100% thủ tục hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử được giải quyết đúng và trước hạn; đồng thời, nỗ lực giảm tỷ lệ website vi phạm quyền lợi người tiêu dùng xuống dưới 10%; tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử đạt khoảng 65-70%.

Đáng chú ý, thành phố thúc đẩy mạnh mẽ hóa đơn điện tử với mục tiêu trên 85% giao dịch thương mại điện tử sử dụng loại hình này; tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong thương mại điện tử phấn đấu đạt từ 75-80%; đào tạo, tập huấn kỹ năng thương mại điện tử cho khoảng 6.000-8.000 lượt cán bộ quản lý và tổ chức, cá nhân.

Có 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được đề ra, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp. Cụ thể là: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thương mại điện tử với việc thành phố sẽ tập trung rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính đồng bộ với Luật Thương mại điện tử; xây dựng quy chế phối hợp quản lý và phát triển hoạt động thương mại điện tử trên địa bàn; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi gian lận, hàng giả, hàng nhái trên môi trường mạng; tăng cường quản lý thuế đối với kinh doanh nền tảng số để chống thất thu ngân sách.

Cùng với đó là phát triển thương mại điện tử trong doanh nghiệp và cộng đồng, được xem là giải pháp mang tính đòn bẩy nhằm hỗ trợ mở rộng thị trường cho các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP và hàng hóa làng nghề truyền thống. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thương mại điện tử, trong đó khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng trên địa bàn tích hợp nội dung thương mại điện tử vào chương trình giảng dạy, với mục tiêu đạt tỷ lệ hơn 55% cơ sở thực hiện.

Thành phố cũng tiếp tục thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại các cơ sở phân phối, chợ truyền thống và trong thanh toán dịch vụ công như điện, nước…

Ver2Solution theo Báo Nhân Dân

Continue Reading

Trong Nước

Doanh thu tăng trên 11% trong tháng 4/2025 các dịch vụ tiêu dùng phục vụ cho mùa du lịch hè

Published

on

Nhu cầu tiêu dùng, mùa du lịch hè của người dân tăng trong các kỳ nghỉ lễ, Tết cùng với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao là các nhân tố đóng góp tích cực cho tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ…

Theo số liệu công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2025 ước tăng 11,1% trong mùa du lịch hè so với cùng kỳ năm trước.

Mức tăng 2 con số được Cục Thống kê chỉ ra là do nhu cầu tiêu dùng, du lịch của người dân tăng trong các kỳ nghỉ lễ, Tết cùng với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao là các nhân tố đóng góp tích cực cho tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ từ đầu năm đến nay.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,9% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 24,5%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 4/2025 ước đạt 582,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, doanh thu nhóm hàng vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 10,9%; lương thực, thực phẩm tăng 10,0%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,9%; hàng may mặc tăng 6,6%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 18,8%; du lịch lữ hành tăng 46,1%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.285,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,6%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,7% (cùng kỳ năm 2024 tăng 5,4%).

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.752.5 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,7% tổng mức và tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, nhóm hàng vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 12,6%; lương thực, thực phẩm tăng 9,8%; may mặc tăng 7,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,9%.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Hải Phòng tăng 9,0%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,5%; Cần Thơ tăng 8,1%; Đà Nẵng tăng 7,7%; Hà Nội tăng 7,4%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành 4 tháng đầu năm giai đoạn 2021-2025. Nguồn: Cục Thống kê.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành 4 tháng đầu năm giai đoạn 2021-2025. Nguồn: Cục Thống kê.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 270,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Ninh tăng 19,4%; Đà Nẵng tăng 18,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 15,9%; Hà Nội tăng 15,8%; Hải Phòng tăng 15,2%; Cần Thơ tăng 11,1%.

Đặc biệt, chính sách thị thực thuận lợi, các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch được đẩy mạnh cùng với tổ chức các ngày lễ lớn của dân tộc đã thu hút khách quốc tế đến Việt Nam tiếp tục tăng cao.

Trong tháng 4/2025, số lượng khách quốc tế đến nước ta đạt 1,65 triệu lượt người, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 7,67 triệu lượt người, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 30,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3% tổng mức và tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu du lịch của người dân tăng cao trong các ngày lễ, Tết và đặc biệt là đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Một số địa phương có doanh thu 4 tháng đầu năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, gồm: Đồng Nai tăng 29,7%; Hà Nội tăng 25,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 25,3%; Quảng Ninh tăng 23,5%; Đà Nẵng tăng 22,3%; Bình Dương tăng 19,9%.

Doanh thu dịch vụ khác 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 232,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,2% tổng mức và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương đạt doanh thu bốn tháng đầu năm 2025 cao, gồm: Cần Thơ tăng 27,5%; Quảng Ninh tăng 13,6%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,0%; Khánh Hòa tăng 11,1%; Hà Nội tăng 6,9%; Hải Phòng tăng 5,6%.

Ver2Solution theo Vneconomy 

Continue Reading

Trong Nước

Xu hướng thói quen tiêu dùng người Việt năm 2026

Published

on

Ver2Solution phân tích tổng hợp dữ liệu nghiên cứu từ nhiều nguồn uy tín, chúng tôi đánh giá từ năm 2026 thói quen tiêu dùng của người Việt đã dịch chuyển mạnh mẽ từ việc “tích trữ tài sản” sang “tích lũy giá trị sống”. Sự thay đổi này không hẳn là không tiết kiệm, mà là một kiểu tiết kiệm có tính toán (Calculated Spending): họ sẵn sàng cắt giảm những chi phí lãng phí, rập khuôn để dồn tiền vào những thứ mang lại hạnh phúc tức thì và sự phát triển cá nhân.

Dưới đây là chi tiết các hành vi và thói quen tiêu dùng mới nhất đang định hình thị trường Việt Nam:

1. Tư duy “Me-first” & “Self-love” (Ưu tiên bản thân)

Thay vì hy sinh mọi thứ cho tương lai xa vời hoặc cho vẻ ngoài hào nhoáng để người khác ngắm nhìn, người tiêu dùng (đặc biệt là Gen Z và Millennials) tập trung vào sự thỏa mãn của chính mình.

  • Chi cho sức khỏe tinh thần: Doanh số các sản phẩm như nến thơm, trà thảo mộc, các ứng dụng thiền định và các buổi workshop chữa lành tăng vọt.

  • Chăm sóc sức khỏe chủ động: Gần 56% người Việt dự định tăng chi cho y tế và thực phẩm chức năng. Họ không đợi có bệnh mới chữa mà chi tiền cho việc tầm soát, dinh dưỡng cá nhân hóa và các thiết bị theo dõi sức khỏe đeo tay.

2. Dịch chuyển từ “Sở hữu” sang “Trải nghiệm”

Người Việt bắt đầu nhận ra vật chất có thể mất giá, nhưng ký ức thì không.

  • Du lịch cá nhân hóa (Tailor-made travel): Không còn chuộng đi tour đoàn đông đúc. Xu hướng năm 2026 là các tour trekking, du lịch bảo tồn, hoặc các chuyến đi “không lịch trình” để tự mình khám phá văn hóa bản địa.

  • Ẩm thực trải nghiệm: Khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn cho một bữa ăn có “câu chuyện”, có không gian thiết kế độc đáo hoặc quy trình chế biến biểu diễn tại bàn thay vì chỉ là ăn no.

3. Tiêu dùng “Đủ dùng” & “Đáng tiền” (Value-for-money)

Tiết kiệm năm 2026 không phải là mua đồ rẻ nhất, mà là mua đồ dùng được lâu nhất.

  • Triết lý “Less is More”: Thay vì mua 10 chiếc áo rẻ tiền nhanh hỏng, người tiêu dùng chọn mua 2 chiếc áo chất lượng cao, bền bỉ và đa năng (có thể mặc đi làm lẫn đi chơi).

  • Tư duy dữ liệu: Người dùng sử dụng AI để so sánh giá, đọc review thực tế từ KOC 2.0 (những người review trung thực, không quảng cáo lố) trước khi xuống tiền. Họ cực kỳ dị ứng với các hình thức “seeding” ảo.

4. Lối sống Xanh & Bền vững (Sustainability)

Đây không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành tiêu chuẩn chọn lựa hàng hóa:

  • Ưu tiên sản phẩm đạo đức: Người Việt quan tâm đến việc bao bì có tái chế được không, doanh nghiệp có đối xử tốt với nhân viên không.

  • Ăn chay và sống thuần chay: Các dịp “Tết Chay”, “Tháng Chay” hay các nhà hàng thuần chay mọc lên như nấm, đáp ứng nhu cầu thanh lọc cơ thể và bảo vệ môi trường.

5. Ngôi nhà là “Trung tâm vũ trụ”

Sau các biến động, ngôi nhà không chỉ là nơi ngủ mà là nơi tích hợp mọi hoạt động.

  • Home-tainment: Đầu tư mạnh vào dàn âm thanh, máy chiếu tại gia, máy pha cà phê chuyên nghiệp để tận hưởng cảm giác “chill” ngay tại nhà thay vì ra quán.

  • Smart-home tiện lợi: Các thiết bị gia dụng tự động (robot hút bụi, nồi chiên hơi nước, máy rửa bát) được coi là khoản đầu tư để “mua lại thời gian” cho bản thân.

6. Mua sắm không điểm dừng (Seamless Journey)

  • Social Commerce & Live-shopping: Người Việt thích vừa giải trí vừa mua sắm. Các phiên livestream không chỉ đơn thuần là bán hàng mà là một show diễn kỹ năng và kiến thức.

  • Kỳ vọng về tốc độ: “Giao hàng trong 2h” đã trở thành tiêu chuẩn. Nếu một thương hiệu giao hàng quá lâu (trên 3 ngày), khả năng khách hàng hủy đơn hoặc không quay lại là rất cao.

Theo Ver2Solution người Việt năm 2026 đang tiêu dùng theo kiểu “Tận hưởng có trách nhiệm”. Họ không tiêu xài hoang phí, nhưng cũng không tằn tiện đến mức khắc khổ. Họ chi tiền để nâng cấp chất lượng sống và khẳng định bản sắc cá nhân, quan tâm cảm xúc nhiều hơn.

Để chạm đúng vào tâm lý “Chi tiền cho trải nghiệm và giá trị sống” của người Việt năm 2026, kịch bản livestream của bạn cần thoát khỏi lối mòn “hét giá – chốt đơn” truyền thống. Hãy biến phiên live thành một buổi chia sẻ phong cách sống (Lifestyle Sharing).

💡 3 Mẹo “Thôi miên” khách hàng năm 2026:

  1. Dùng ngôn ngữ “Vị nhân sinh”: Thay vì nói “Áo này chất vải lanh”, hãy nói “Mặc áo này đi biển, gió thổi qua là thấy mát lịm, lên hình màu này cực kỳ tôn da”.

  2. Minh chứng thực tế (Social Proof): Đưa điện thoại lên màn hình cho khách xem những feedback (đã xin phép) hoặc ảnh khách check-in đẹp với sản phẩm của bạn.

  3. Thái độ “Chuyên gia”: Đừng chỉ là người bán, hãy là người tư vấn. Nếu khách hỏi đi leo núi nên mang gì, hãy thành thật khuyên họ chọn sản phẩm phù hợp thay vì cố bán món đắt nhất.

Tổng hợp phân tích nhiều nguồn.
Ver2Solution Research

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .