Nếu thuộc thế hệ 9X, chắc hẳn bạn đã từng ít nhất một lần nói câu: “ Ngày xưa mình không như thế này” . Và lúc này, một Gen Z khác sẽ liền phản bác : “Thời của anh chị khác rồi”.9X là trùm FOMO Gen Z là trùm chữa lành .
Cứ như thế, 9X – Gen Z so sánh lẫn nhau và bị cả những thế hệ, con người khác đặt lên “bàn cân” với ti tỉ thứ khác biệt, đối lập. 9X thường bị nhận xét là lo âu, thích sự ổn định và an toàn khác với Gen Z – những người được cho là táo bạo, sẵn sàng “nhảy việc” chỉ để chữa lành ngay cả khi… chẳng rách.
Hội chứng này của 9X gọi là FOMO (fear of missing out) hiểu một cách đơn giản là “nỗi sợ bị bỏ lỡ” – sợ rằng mình đang không nắm bắt được những thông tin, sự kiện, trải nghiệm hoặc quyết định có khả năng cải thiện cuộc sống. Nó khiến bạn trằn trọc, vắt tay lên trán hàng đêm, tự đặt mình lên bàn cân so sánh mỗi sáng về thành công, tình yêu, tiền bạc,… với người khác, thế hệ khác.
Trong khi đó Gen Z ưu tiên sức khỏe tinh thần, sống cho hiện tại nhiều hơn. Thậm chí, có một giai đoạn chữa lành trở thành trend, từ khóa “chualanh”, “healing” từng lọt top 100 từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất tại Việt Nam trên các nền tảng MXH.
9X FOMO còn Gen Z thì chữa lành.
Hai thế hệ liền kề nhau nhưng lại mang hai thái cực đối lập – một bên vội vã nắm bắt mọi cơ hội, bên khác lại sẵn sàng buông bỏ để mong cầu sự bình yên. Ở đây, không so sánh ai hơn ai, FOMO hay chữa lành đều là nhu cầu, đều có giá trị riêng, cái lợi – hại khác biệt. Nhưng thực tế, mỗi thế hệ đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh xã hội khác nhau. Việc so sánh có thể thú vị, nhưng không nên trở thành áp lực hay định kiến.
Hơn nữa, không phải 9X nào cũng FOMO và Gen Z nào cũng có nhu cầu chữa lành. Điều này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh, mục tiêu trong cuộc sống của từng cá nhân. Vậy bạn có đang phải là một 9X FOMO hay một Gen Z mê chữa lành hay không, điều này rất dễ nhận ra nếu xét trên các khía cạnh trong cuộc sống dưới đây:
8X thì thành đạt, nhóm 18-25 giờ đã là CEO, hot TikToker còn 9X đang ở đâu?
9X FOMO thành công, đó là 1 thực tế!
Với họ, thành công có thước đo rõ ràng về mặt số liệu, tài chính, đó là: Thu nhập bao nhiêu, tài sản tích lũy ra sao, đang có chức vụ gì,… Chưa dừng lại ở đó, thành công còn phải sớm, chắc chắn, phải là một cuộc đua thành tích, vị trí với nhiều người, nhiều thế hệ khác nhau.
9X tất bật với công việc, họ FOMO thành công, tài chính mỗi ngày. Ảnh minh họa.
Có một bình luận thế này: “9X bọn tôi áp lực lắm khi ngoảnh lại đã thấy sự thành đạt, dồi dào kinh nghiệm của thế hệ 8X còn nhìn lên thì thấy các em 18-25 bây giờ là CEO, YouTuber, TikToker kiếm hàng trăm triệu mỗi tháng. Nhìn sang thì thấy bạn bè làm freelancer, đầu tư,…”.
Vì thế, không ai chấp nhận mình bị bỏ lại phía sau, ai cũng miệt mài chạy lên, chạy ngang, chạy dọc không ngừng nghỉ. Rồi từ quan niệm “công việc là tất cả”, nhiều người sẽ cố gắng bám trụ, sợ bị thất nghiệp. Là thế hệ gánh trên vai áp lực thành công được định nghĩa bằng sự nghiệp, nhiều người mắc hội chứng FOMO là vậy.
Rồi cũng từ đây FOMO tài chính bắt đầu xuất hiện. Nhiều người bị ám ảnh và trăn trở đặt ra lúc này là: “Mọi người đã FIRE (tự do tài chính), còn mình thì…” .
Lúc này, Gen X lại ám ảnh với việc phải có tài chính vững chắc, nghỉ hưu sớm. FOMO khi thấy người khác thu nhập 6-7 chữ số, trong khi mình vẫn loay hoay với những đồng lương khởi điểm. Nhiều người cũng có tâm lý chạy theo trào lưu, mua sắm theo tâm lý đám đông vì sợ lạc hậu.
Tất cả như một tảng đá đè nặng, song điều này cũng khiến cho nhiều người sống có trách nhiệm, có kế hoạch rõ ràng hơn, dù sao thì câu “áp lực tạo kim cương” cũng chẳng sai.
Ngược lại cũng với chữ thành công thì Gen Z lại có định nghĩa khác, họ đặt work-life balance (cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân – PV) lên hàng đầu. Hiểu đơn giản là lúc này thành công không chỉ còn gắn liền với công việc nữa mà còn gắn với yếu tố cuộc sống cá nhân. Nhiều Gen Z quan điểm “không hợp thì nghỉ, sức khỏe tinh thần là quan trọng hơn”. Văn hóa “quiet quitting” – làm đúng trách nhiệm, không ôm đồm cũng phổ biến trong thế hệ này. Yếu tố chữa lành trong công việc được đẩy lên trên hết!
Là chúa chữa lãnh, Gen Z chẳng ngại nghỉ việc khi thấy sức khỏe tinh thần không ổn. Ảnh minh họa.
Gen hiểu rằng thành công không chỉ là thu nhập cao mà còn là sức khỏe tinh thần, mối quan hệ chất lượng và sự thoải mái trong cuộc sống.
Chính vì tâm lý này, nên Gen Z cũng là thế hệ cởi mở trong tài chính. Nhiều người quan điểm sống cho hiện tại nhiều hơn nên cởi mở được gánh nặng tích lũy. “Mình chỉ cần sống đủ không chạy đua vô nghĩa”, một netizen bình luận. Chính vì vậy, gen Z hướng đến lối sống tối giản, chi tiêu thông minh,…. Biến từ “Áp lực kiếm tiền” thành “Quản lý tài chính lành mạnh”.
Gen Z dùng app thiền, AI trò chuyện, theo dõi nội dung tích cực trên mạng
Từ mạng xã hội, đến các các ứng dụng công nghệ, 9X luôn lo sợ mình bị cũ. Nếu không biết trend mới nhất họ cảm thấy như bị “bỏ rơi” khỏi thế giới đang không ngừng chuyển động.
Nếu 9X FOMO thì Gen Z ngược lại. Đúng với tinh thần chúa chữa lành. Các bạn trẻ xem chuyện bắt kịp xu hướng, công nghệ như một liệu pháp chữa lành hiệu quả. Người trẻ trò chuyện với AI, thay vì hỏi về công việc, tài chính thì đây có thể là nơi tâm sự đủ thứ trên đời, nói ra những áp lực, âu lo để giãy bày tâm trạng hoặc xin lời khuyên,…
Ngoài tập yoga, gym ở các phòng tập, khi về nhà, nhiều Gen Z cũng dùng điện thoại, tải app thiền, hỗ trợ thiền định, để giúp tâm trí tĩnh lặng, giảm lo lắng, kiểm soát căng thẳng và ngủ sâu.
9X lo sợ bắt không kịp trend của Gen Z, vậy thì có tụt hậu không? Ảnh minh họa.
Thay vì phải update mọi trend mới nhất, Gen Z chọn những thứ phù hợp với mình. Họ không ép buộc bản thân phải chạy theo một xu hướng, định hướng phong cách chung của đám đông nào đó chỉ để hòa nhập, mà tập trung vào sở thích cá nhân.
9X áp lực kết hôn, sinh con. Gen Z: Độc thân vui mà!
Trong một thế giới mà tình yêu dường như ở khắp mọi nơi, việc độc thân đôi khi không chỉ là một trạng thái, mà còn trở thành một nỗi lo vô hình. Càng trở thành vấn đề hơn bao giờ hết khi 9X đang ở giữa kỷ nguyên của mạng xã hội và dating app, tình yêu không chỉ là cảm xúc – nó còn là một “cuộc đua” mà nếu chậm chân, bạn có thể bị bỏ lại phía sau.
Khi mở Facebook hay Instagram, 9X dễ dàng thấy bạn bè check-in du lịch couple, chia sẻ khoảnh khắc gia đình ngọt ngào. Trong khi đó, họ vẫn lẻ bóng, tối đến chỉ có thể lướt các ứng dụng hẹn hò như Tinder, Bumble rồi tự hỏi: “Tại sao match hoài mà chẳng ai nhắn trước?”. FOMO tình yêu không chỉ đến từ mạng xã hội mà còn từ chính những áp lực vô hình: độ tuổi kết hôn lý tưởng, sự kỳ vọng của gia đình hay nỗi lo “một mình mãi mãi”.
Gen Z vui vẻ tận hưởng cuộc sống độc thân hơn, thậm chí họ đã sẵn sàng cho cuộc sống không chồng, không con bởi với họ, như thế sẽ bớt gánh nặng, sống chill hơn? Ảnh minh họa.
Gen Z thì khác, đặt chữa lành lên hàng đầu nên đã chuyển từ “bị áp lực yêu đương” trở thành “tận hưởng độc thân”.
Với Gen Z, tình yêu không còn là một “điểm đến” mà là một hành trình – nơi họ học cách yêu bản thân trước khi yêu người khác. Không còn chạy theo những tiêu chuẩn hẹn hò truyền thống hay áp lực phải “có gấu”. Gen Z chọn cách chữa lành trước, rồi mới bước vào một mối quan hệ với tâm thế vững vàng hơn.
Họ đọc sách tâm lý, nghe podcast về các chủ đề yêu bản thân bắt đầu từ bên trong bạn, có thể viết nhật ký mỗi ngày, trò chuyện với bạn bè, người thân hoặc AI để hiểu rõ cảm xúc của chính mình. Trên mạng xã hội, Gen Z tạo ra những cuộc thảo luận về tình yêu lành mạnh, yêu không chỉ gói trọn trong mối quan hệ nam – nữ, với gia đình mà còn với cả chính mình. Đó nên là điều ưu tiên.
“Mình có đang tụt lại phía sau không?”
Giữa những vlog du lịch Bali, check-in cà phê tối giản, clip tập yoga chữa lành, nhiều 9X bỗng hoang mang: “Mình có đang tụt lại phía sau không?”. Trong khi Gen Z làm freelancer, uống matcha mỗi sáng, 9X vẫn quen với công việc văn phòng và bữa tối mì gói. Áp lực không chỉ đến từ công việc, mà còn từ chính phong cách sống. Không “bắt trend” đồng nghĩa với nguy cơ bị gọi là kẻ tụt hậu, “nhà quê”.
Không còn bị cuốn vào guồng quay “phải thành công sớm” hay “phải sống đúng chất”, Gen Z đang định nghĩa lại phong cách sống theo cách riêng – chậm hơn, sâu hơn và lành mạnh hơn. Họ tối giản đồ đạc để bớt áp lực vật chất, chọn yoga, thiền định, biết nhật ký để chữa lành tâm trí, uống matcha thay vì cà phê để chăm sóc cơ thể.
Sau cùng, sống chất không nằm ở việc chạy theo xu hướng, mà ở chỗ tìm ra nhịp sống phù hợp với chính mình.
Với Gen Z, chữa lành không phải là bắt kịp ai, mà là tìm ra phiên bản thoải mái nhất của chính mình. Ảnh minh họa.
Thay vì chạy theo hustle culture (văn hóa “cày cuốc”, một phong cách làm việc tập trung vào việc nỗ lực không ngừng nghỉ, thường xuyên làm ngoài giờ -PV) như nhiều người ở thế hệ trước, Gen Z tìm kiếm sự cân bằng: Có người làm freelancer du mục, có người tận hưởng niềm vui nhỏ mỗi ngày. Không còn công thức chung nào cho một cuộc sống “chuẩn Gen Z” – điều quan trọng nhất là tìm được nhịp sống khiến họ thực sự hạnh phúc.
Nếu thế hệ trước coi “ổn định” là đích đến, thì 9X lại mắc kẹt giữa mong muốn phát triển và nỗi sợ đi sai đường. Nhưng đôi khi, không có con đường hoàn hảo – chỉ có những bước đi vững vàng và sẵn sàng điều chỉnh khi cần.
Ngược lại, vì sống theo phương châm chữa lành là chính, Gen Z quan điểm rằng không có đường sai, chỉ còn đường chưa đi. Thay vì áp lực, trách móc chính mình, thay vì gồng mình tìm một con đường hoàn hảo, họ dần học cách chữa lành bằng việc chấp nhận thử và sai, điều chỉnh theo từng giai đoạn.
Lớn lên giữa vô vàn lựa chọn, Gen Z dễ mắc kẹt trong nỗi sợ “chọn sai” – sai ngành, sai công ty, sai hướng đi. Có người nhảy việc để khám phá bản thân, có người nghỉ ngơi để tìm lại đam mê, có người kết hợp nhiều nghề một lúc để không bị bó buộc. Với Gen Z, định hướng không còn là điểm đến cố định, mà là hành trình linh hoạt – nơi mỗi bước đi, dù rẽ trái hay phải, đều là một phần của trưởng thành.
Bạn đang nghĩ suy về điều gì? Ảnh minh họa.
Tựu trung, 9X lao về phía trước, sợ chậm một bước sẽ lỡ mất cơ hội. Gen Z chậm lại, tin rằng ý nghĩa không nằm ở tốc độ mà ở việc hiểu mình thật sự muốn gì. Một thế hệ từng quẩn quanh với áp lực phải “đúng chuẩn”, một thế hệ học cách tháo gỡ nhãn dán để sống theo cách riêng.
Dù chạy hay dừng, dù FOMO hay chữa lành, cả hai thế hệ đều đang đi tìm câu trả lời cho cùng một câu hỏi: Rốt cuộc, sống thế nào mới thực sự có ý nghĩa?
Smartwatch đã trở thành một công cụ hữu ích cho những ai muốn nhanh chóng kiểm tra thông báo, theo dõi sức khỏe và thời gian. Với khả năng truy cập ứng dụng chỉ bằng cách liếc nhìn cổ tay, người dùng không cần phải lấy điện thoại ra để xem thông báo hay giờ giấc.Khi smartwatch gây phiền nhiễu, cồng kềnh.
Theo BGR, nhiều người dùng cảm thấy smartwatch trông rườm rà, không thẩm mỹ và cồng kềnh. Nếu chỉ cần xem giờ, đồng hồ kim là lựa chọn tối ưu để tránh bị phiền nhiễu bởi thông báo. Đối với những ai không quan tâm đến việc theo dõi quá trình tập luyện hay nhận thông báo, đồng hồ kim mang lại sự đơn giản và phong cách cổ điển.
Hơn nữa, trên thị trường vẫn còn tồn tại một số lựa chọn khác để theo dõi dữ liệu thể dục mà không cồng kềnh. Ví dụ nhẫn thông minh như Oura Ring có thể theo dõi chất lượng giấc ngủ và kín đáo, phù hợp với mọi trang phục. Các thiết bị như vòng đeo tay Whoop, Fitbit hay tai nghe cũng có thể theo dõi sức khỏe mà không gây cảm giác nặng nề hay dễ nhận thấy như đồng hồ thông minh.
Đâu là lý do để mua smartwatch?
Mặc dù có nhiều vấn đề, smartwatch vẫn là một lựa chọn đáng để đầu tư. Chúng cho phép theo dõi giấc ngủ, số bước đi và quá trình tập luyện, đồng thời có thể thay thế điện thoại trong việc nhận cuộc gọi, tin nhắn và nghe nhạc. Đối với những người yêu thích lối sống năng động, smartwatch giúp theo dõi nhịp tim, quãng đường và mức giảm cân, từ đó cải thiện sức khỏe tổng thể.
Cuối cùng, việc có cần một chiếc smartwatch hay không phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân của mỗi người. Nếu quan tâm đến việc theo dõi sức khỏe và dễ dàng phản hồi thông báo, smartwatch có thể là lựa chọn phù hợp. Tuy nhiên, các thiết bị khác như nhẫn thông minh cũng có thể đáp ứng nhu cầu tương tự mà không gây xao nhãng trong quá trình sử dụng.
Có thu nhập hơn 100 triệu đồng mỗi tháng, vợ chồng anh Phùng Văn Linh, 29 tuổi và Thúy Vân, 28 tuổi, ở phường Từ Liêm, quyết định dừng kế hoạch mua nhà để đi thuê.
“Nghĩ đến cảnh mở mắt ra đã phải lo trả lãi ngân hàng, muốn thay đổi công việc cũng không dám vì sợ thu nhập không đủ trả nợ, vợ chồng tôi quyết định dừng kế hoạch mua nhà”, Thúy Vân nói.
Khi mới kết hôn ba năm trước, cặp vợ chồng trẻ cũng có kế hoạch mua nhà để “an cư lạc nghiệp” như nhiều gia đình khác. Nhưng giai đoạn 2023-2024, giá căn hộ tại Hà Nội tăng quá nhanh khiến kế hoạch liên tục bị đổ bể. “Có căn chỉ trong vài tháng đã tăng thêm vài trăm triệu đồng. Tiền tích lũy của vợ chồng tôi không thấm vào đâu”, Vân kể.
Hiện tại, thu nhập của gia đình vượt 100 triệu đồng mỗi tháng, gấp gần 5 lần mức trung bình (21,5 triệu đồng) của một hộ ở Hà Nội, vợ chồng cô vẫn không dám tái khởi động kế hoạch mua nhà.
Theo tính toán của Vân, nếu mua một căn hộ 64 m2 giá khoảng 5 tỷ đồng, vợ chồng cô sẽ phải vay ngân hàng 3 tỷ đồng, thời hạn 20 năm. Trong thời gian hưởng ưu đãi lãi suất, mỗi tháng gia đình phải trả khoảng 30 triệu đồng. Vào giai đoạn lãi suất thả nổi, số nợ phải trả có thể tăng lên 35 triệu đồng mỗi tháng.
Năm ngoái, vợ chồng cô mua ôtô phục vụ đi lại. Họ thuê một căn hộ một phòng ngủ rộng 43 m2 với giá hơn 10 triệu đồng mỗi tháng, gồm cả điện, nước và phí dịch vụ. Con gái ba tuổi học trường tư tốn hơn 7 triệu đồng mỗi tháng. Tổng chi phí nuôi con hơn 20 triệu đồng. “Rõ ràng là phương án đi thuê nhà dễ thở hơn nhiều”, Vân nói. “Tôi có thể mua sắm theo sở thích, ăn uống theo nhu cầu và đi du lịch vài lần mỗi năm nhờ không gánh nợ”.
Với cách tính tương tự, vợ chồng Thu Hương, 32 tuổi, ở phường An Khánh, TP HCM cũng chọn thuê căn hộ 56 m2 trong khu chung cư có hồ bơi, phòng gym và khu thể thao, giá 20 triệu đồng mỗi tháng.
Bạn bè khuyên họ vay mua nhà vì số tiền thuê không ít. Tuy nhiên, căn hộ hai phòng ngủ tương đương căn đang thuê có giá bán khoảng 4,5 tỷ đồng. Nếu vay 3,5 tỷ đồng mua nhà, trong 20 năm, mỗi tháng, họ phải trả nợ hơn 40 triệu đồng. “Tôi sẽ phải gánh khoản nợ này suốt 1/3 cuộc đời”, cô nói.
Nếu dồn tiền trả nợ sớm, hai vợ chồng buộc phải hy sinh nhiều nhu cầu hiện tại, chưa kể, một đứa trẻ chào đời, gánh nặng sẽ tăng thêm. “Nghĩ đến nợ, chúng tôi tạm thời ở thuê cho nhẹ đầu”, cô nói.
Hiện tại, căn hộ ở thuê cách công ty chồng Hương khoảng một km, cách nơi làm việc của vợ 4 km. Nếu thay đổi công việc, cô có thể thoải mái chọn thuê căn hộ khác cạnh chỗ làm mới. “Ở thuê giúp không gian sống luôn bám sát nhu cầu thực tế thay vì cố định vào một nơi lâu dài rồi dần không còn phù hợp”, Hương nói.
Sau giờ làm, hai vợ chồng đi tập gym, chơi pickleball hoặc đưa thú cưng đi dạo. Điều Hương thích nhất khi ở nhà thuê là không phải lo sửa chữa hay bảo trì. Thiết bị nào trong nhà hỏng, cô chỉ cần nhấc máy gọi công ty phụ trách cho thuê, sẽ được xử lý ngay.
Hai vợ chồng dành ngân sách cho du lịch nước ngoài vài chuyến mỗi năm, đầu tư cho sở thích cá nhân và trải nghiệm sống. Sắp tới họ sẽ chuyển sang căn rộng hơn để có thêm phòng xông hơi và không gian cho hai con mèo chạy nhảy.
Thu Hương trong ngôi nhà hai phòng ngủ ở Thảo Điền, TP HCM. Ảnh nhân vật cung cấp
Ngày càng nhiều gia đình trẻ từ bỏ kế hoạch mua nhà để chọn thuê như vợ chồng Thúy Vân, Thu Hương. Nghiên cứu của Hội Môi giới bất động sản Việt Nam (Vars) cho thấy, hơn 60% người trẻ dưới 35 tuổi tại các đô thị lớn (Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng) ưu tiên thuê nhà, coi đây là giải pháp tối ưu để giảm gánh nặng tài chính và tận hưởng sự tự do trong bối cảnh giá bất động sản leo thang.
Theo dữ liệu từ Numbeo – nền tảng thống kê chi phí sinh hoạt lớn trên thế giới, Việt Nam nằm trong top 10 thế giới về mức độ khó tiếp cận nhà ở. Các chuyên gia cho biết giai đoạn 2023-2024 người dân cần khoảng 23 năm thu nhập để mua nhà, con số này tăng lên 26 năm vào 2025 và hiện đã vượt 30 năm do giá bất động sản tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập. Mức này cao gấp đôi mặt bằng bình quân toàn cầu.
Doanh nhân Lê Quốc Kiên, người có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản ở TP HCM, cho rằng phần lớn người trẻ hiện làm việc trong khu vực trung tâm đô thị. Với 10-15 triệu đồng tiền thuê mỗi tháng, họ có thể sống trong căn hộ đầy đủ tiện ích và di chuyển thuận tiện đến nơi làm việc. “Nhiều người chấp nhận ở thuê tiện nghi còn hơn sở hữu một căn nhà quá xa nơi làm việc”, ông nói.
Lối sống độc lập, kết hôn muộn cũng là nguyên nhân khiến người trẻ chọn ở thuê, khi giá nhà đắt đỏ, không có trợ giúp từ người thân, mua nhà thành bất khả thi.
Chuyên gia Phan Dũng Khánh, người có hơn 20 kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn đầu tư, cho rằng tư duy “an cư lạc nghiệp” của người Việt khiến nhiều gia đình vô thức gắn toàn bộ kế hoạch tài chính và cuộc sống vào một tài sản cố định.
Ngoài ra, khi mang áp lực vay mua nhà, họ thường phải chọn công việc an toàn để duy trì dòng tiền trả nợ, từ đó hạn chế cơ hội thử sức với các hướng đi mới hoặc đầu tư mạo hiểm để làm giàu. Ngược lại, những người ít áp lực nợ vay có xu hướng dành tiền cho trải nghiệm, học tập và đa dạng kênh đầu tư nhằm mở rộng cơ hội thu nhập dài hạn.
“Không có kết luận đúng hay sai khi đi thuê nhà. Mục tiêu cuối cùng vẫn là sống hạnh phúc, chứ không phải gồng gánh một tài sản”, ông Khánh nói.
Ở chiều ngược lại, PGS Nguyễn Đức Lộc, Viện Nghiên cứu Đời sống xã hội (Social Life) lo ngại cảm giác ở tạm có thể làm suy giảm tính gắn kết cộng đồng. Nếu xu hướng đi thuê nhà kéo dài, các đô thị lớn có nguy cơ trở thành “thành phố của những người tạm trú”, nơi các mối quan hệ láng giềng và kết nối xã hội ngày càng lỏng lẻo.
Ông cũng cho rằng không “an cư” góp phần khiến nhiều người trẻ trì hoãn kết hôn, ngại sinh con hoặc lựa chọn sinh ít con hơn.
Theo chuyên gia, các chính sách nhà ở hiện nay chưa chú ý đủ đến nhu cầu sống lâu dài của các hộ gia đình trẻ. Nhiều căn hộ cho thuê hoặc nhà ở xã hội có diện tích nhỏ, thiếu không gian sinh hoạt cộng đồng, trường học, khu vui chơi hay tiện ích phục vụ trẻ em.
Mỗi tháng, vợ chồng Thúy Vân mua hai chỉ vàng để dành và một khoản tiền gửi ngân hàng. “Khi nào tích lũy được khoảng 70% giá trị căn hộ tôi mới mua. Nếu vẫn không đủ, tôi dành tiền mua đất ở quê dưỡng già”, Vân nói.
Cuốn “Like, Follow, Subscribe” của Fortesa Latifi vạch trần ngành công nghiệp đưa trẻ em thành KOL trên mạng xã hội nhưng không quan tâm đến quyền lợi của các em, theo The Times.
Cuốn sách đưa người đọc đến với gia đình người nổi tiếng (KOL) Sam (tên giả). Các con của Sam không muốn bị quay phim và ghét nhảy múa trước máy quay. Nhưng nếu Sam có thể thuyết phục các con nhảy chỉ một phút thôi, gia đình sẽ kiếm được 40.000 USD từ hợp đồng quảng cáo.
Sam chuyển sang dùng chiêu hối lộ, đề nghị cho mỗi đứa trẻ 500 USD. Sam nói với các con: “Đây là công việc kinh doanh của chúng ta. Đây là nghề của chúng ta. Đây là công việc của gia đình. Nếu chúng ta sở hữu một trang trại, tất cả đều phải ra ngoài vắt sữa bò. Không có hỏi han gì cả… Vậy nên hãy xếp hàng và cùng làm việc này. Sau đó, chúng ta sẽ đi ăn kem và bố sẽ trả cho các con một khoản tiền lớn”.
Câu chuyện của Sam, người sở hữu kênh YouTube gia đình với hơn 1 tỷ lượt xem, xuất hiện cùng nhiều câu chuyện khác trong Like, Follow, Subscribe.
Ngành công nghiệp đưa trẻ em thành KOL
Đối với những người chưa biết, vlog gia đình là dạng video và hình ảnh trên các nền tảng cho thấy chi tiết cuộc sống gia đình. Nếu làm đúng cách và có nhiều người theo dõi, các KOL có thể kiếm được một khoản tiền khổng lồ từ các hợp đồng thương hiệu, tài trợ và quảng cáo. Vlog này có thể sinh lợi đến mức đối với một số người, đây là động lực chính để sinh thêm con.
Vì những đứa trẻ KOL không phung phí tiền mà còn kiếm ra tiền. Một ví dụ khác là gia đình bảy người của LaBrant ở Tennessee. Điểm độc đáo của họ là vẻ ngoài dễ thương, tóc vàng, và sự hoàn hảo của các con chiên ngoan đạo. Họ có hơn 12 triệu người đăng ký kênh YouTube, ước tính mang về cho họ 3 triệu USD mỗi năm.
Giống hầu hết vlogger gia đình, nội dung của họ là về cuộc sống thường nhật: các điệu nhảy, làm slime, những bất ngờ dành cho nhau vào ngày Valentine. Và ngoài ra còn có các cột mốc riêng tư, như những video về quá trình sinh nở với những em bé mới chào đời.
Họ cũng không ngại sử dụng chiêu trò câu view. Một video có tiêu đề Cô ấy được chẩn đoán mắc bệnh ung thư kèm hình thu nhỏ của một trong những bé gái trong gia đình. Nhưng thực chất, video lại nói về bệnh ung thư của một đứa trẻ khác.
Một điều đáng lo ngại là những video thu hút người xem thường là những video cho phép người xem chứng kiến tận mắt nỗi buồn hoặc nỗi đau của một đứa trẻ.
Kênh YouTube Family Fun Pack ra đời cách đây 15 năm, do một gia đình hiện có tám người con thành lập.
Hiện họ có hơn 10 triệu người đăng ký và hầu hết nội dung mô tả sự hỗn loạn của một gia đình đông con. Đáng chú ý, video ghi lại phản ứng của bọn trẻ trước đám tang bà ngoại là một trong những video nổi tiếng nhất của họ.
Sự thật bẩn thỉu
Nhiều người hẳn đã biết đến vụ án của KOL Ruby Franke tại Mỹ. Đây là bà mẹ 42 tuổi có sáu đứa con và là chủ một kênh YouTube chuyên đưa ra lời khuyên về nuôi dạy con cái với hai triệu người đăng ký. Rube đã bị kết án 30 năm tù vì ngược đãi con của mình.
Nhưng đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Latifi đã chia sẻ câu chuyện về Adrea Garza (KOL có 1,86 triệu người đăng ký trên YouTube), hiện kiếm tiền bằng cách đăng video về hai cô con gái sinh đôi mặc những bộ trang phục thời trang.
Adrea nói rằng họ biết có những kẻ “biến thái” đang xem video hai cô bé nhảy múa, nên họ đã hành động, bằng việc giảm tần suất đăng xuống còn “mỗi quý một lần”?
Hay đáng buồn hơn là gia đình KOL Stauffer, một cặp vợ chồng ở Ohio, đã kiếm tiền từ các video về cậu con trai họ nhận nuôi. Sau khi làm rất nhiều video với cậu bé, chỉ hai năm sau, cậu bé lại được chuyển đến một gia đình khác.
Tiếng nói từ những đứa trẻ KOL?
Rachel là một bé gái vị thành niên, con gái trong một gia đình KOL trên Facebook. Cô bé chia sẻ rằng đã ngừng tổ chức tiệc sinh nhật và mời bạn bè đến nhà vì mẹ cô bé chỉ muốn quay video dù Rachel nói không. Em cũng cảm thấy “lo lắng” rất nhiều.
Rachel chia sẻ: “Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi mẹ không có mặt. Đã lâu rồi tôi không nghe mẹ hỏi ‘Ngày hôm nay của con thế nào?’. Bà chỉ gọi tôi lại để cho tôi xem số người theo dõi trên TikTok”.
Gia đình Saccone Joly, sống tại Surrey, từng là kênh YouTube gia đình nổi tiếng nhất châu Âu vào cuối những năm 2010. Họ có hơn 1,7 triệu người đăng ký theo dõi các video hàng ngày về những chuyến đi siêu thị và bữa ăn gia đình.
Nhưng vào năm 2022, người cha đã công khai đóng cửa kênh, nói rằng ông hối hận với các video vì đã khiến các con gặp khó khăn. Ông đã khởi động lại kênh một năm sau đó, nhưng điểm khác biệt là lần này các con là trung tâm và có quyền quyết định câu chuyện.
Câu chuyện lại khác ở gia đình của Sam. Một vụ bê bối đã buộc Sam phải đóng cửa kênh YouTube của họ. Nhưng các con của Sam lại rất bối rối. Chúng ghét làm các công việc bình thường và không thể chịu đựng được việc mất đi sự quan tâm.
Phải chăng cha mẹ đã nuôi dạy ra những kẻ tự cao tự đại, xa rời thực tế và không bao giờ hiểu được giá trị của đồng tiền? “Quay vlog gia đình là một công xưởng tạo nên chủ nghĩa tự cao”, Sam nói.
Dù những đứa trẻ có muốn hay không, sự nổi tiếng và cuộc sống ảo trên mạng xã hội sẽ tiếp tục đi theo các em và để lại nhiều dư âm.