Connect with us

Trong Nước

Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu may mặc nhưng thế giới lại nhớ Uniqlo của Nhật Bản

Published

on

Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu may mặc nhưng đến nay vẫn chưa có một thương hiệu thời trang nào được nhận diện rộng rãi trên bản đồ toàn cầu, thế giới lại nhớ Uniqlo của Nhật Bản.

Đây là nghịch lý mà CEO – nhà sáng lập Coolmate Phạm Chí Nhu cho rằng doanh nghiệp Việt phải tìm cách vượt qua nếu muốn nâng tầm giá trị ngành. Việc lựa chọn Amazon làm điểm xuất phát cho hành trình đưa thương hiệu Việt vào thị trường Mỹ cũng xuất phát từ mong muốn giải bài toán này.

Tại Hội nghị Thường niên 2025 của Amazon Global Selling Việt Nam diễn ra sáng 6/11 ở Hà Nội, ông Phạm Chí Nhu chia sẻ về gần một năm Coolmate đưa sản phẩm sang Mỹ thông qua nền tảng thương mại điện tử này.

Ông Nhu cho biết Việt Nam là quốc gia xuất khẩu may mặc lớn thứ hai thế giới, sản xuất cho hầu hết các thương hiệu lớn và được biết đến rộng rãi với vai trò quốc gia may mặc.

“Ngành này nuôi sống khoảng 5 triệu lao động, đóng góp khoảng 45 tỷ USD xuất khẩu mỗi năm. Tuy nhiên, nhắc đến thời trang, người tiêu dùng quốc tế lại nhớ đến Uniqlo của Nhật Bản, Zara của Tây Ban Nha hay Adidas của Đức… hơn là một đất nước đang sản xuất cho tất cả thương hiệu như vậy”, CEO Coolmate chia sẻ.

Theo ông, nếu muốn thay đổi điều này, doanh nghiệp Việt phải chứng minh được năng lực cạnh tranh ở những thị trường lớn và khó tính nhất.

Quyết định đưa sản phẩm lên Amazon xuất phát từ nhu cầu “kiểm chứng thị trường nhanh nhất có thể”. Đầu năm 2025, sau khi làm việc với đội ngũ Amazon Global Selling, Coolmate xem nền tảng này là cách rút ngắn thời gian đánh giá sản phẩm.

Ông nói vui rằng mình “cũng bị xúi lên Amazon”, nhưng cho biết quyết định lựa chọn nền tảng này thực chất đến từ nhu cầu phải kiểm chứng thị trường một cách nhanh và rõ ràng nhất.

“Điều quan trọng nhất là biết thật nhanh thị trường có chấp nhận sản phẩm hay không”, CEO Coolmate chia sẻ.

Amazon cung cấp dữ liệu phản hồi từ khách hàng theo thời gian thực, từ màu sắc, kích cỡ đến mức độ cạnh tranh và các đánh giá chi tiết. Nhờ vậy, Coolmate có thể điều chỉnh sản phẩm ngay từ những bước thử nghiệm đầu tiên, thay vì mất nhiều tháng quan sát thị trường.

Trong quá trình này, ông Nhu cho biết ông từng đặt nhiều sản phẩm từ các nhà bán Trung Quốc để so sánh và nhận thấy “hàng Việt Nam có lợi thế rõ rệt về chất lượng”, từ chất liệu, đường may đến đóng gói. Ông cho biết khách hàng Mỹ “sẵn sàng trả giá cao hơn nếu sản phẩm có một câu chuyện rõ ràng”.

Tốc độ tăng trưởng của Coolmate tại Mỹ cũng diễn ra tích cực. Sau 6 tháng, doanh nghiệp đạt mốc doanh thu một triệu USD đầu tiên, cho thấy nhu cầu ban đầu khá tốt. Tuy nhiên, theo ông, hành trình này cũng cho thấy doanh nghiệp Việt rất khó theo đuổi chiến lược cạnh tranh bằng giá rẻ trên Amazon.

“Cạnh tranh bằng giá thì cuối cùng không ai thắng cả, maybe người thắng sẽ là Amazon”, ông Phạm Chí Nhu nhấn mạnh.

Theo ông, Amazon đòi hỏi chiến lược dài hạn từ quản lý sản phẩm, vận hành, chuỗi cung ứng đến dòng tiền, và doanh nghiệp phải xác định rõ mục tiêu trước khi tham gia thay vì chạy theo tâm lý đám đông.

Việt Nam là nơi sản xuất nhiều mặt hàng kỹ thuật khó mà các quốc gia khác không còn ưu tiên

Ở góc nhìn rộng hơn về ngành may mặc Việt Nam, vị CEO Coolmate cho rằng Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế tự nhiên để phát triển thương hiệu quốc tế.

Việt Nam là nơi sản xuất nhiều mặt hàng kỹ thuật khó mà các quốc gia khác không còn ưu tiên. Nike đưa 6–7% sản lượng toàn cầu sang Việt Nam, Lululemon sản xuất 100% sản lượng tại Việt Nam. Columbia cũng dựa vào Việt Nam cho nhiều dòng sản phẩm phức tạp. Theo ông, tay nghề công nhân là yếu tố giúp hàng Việt có lợi thế rõ rệt.

“Việt Nam có thể làm được những thứ khó, vấn đề chỉ là chúng ta có dám bước ra để làm hay không”, ông Nhu cho hay.

Năng lực sản xuất quy mô lớn cũng là điểm mạnh quan trọng. Hệ thống nhà máy đa dạng cho phép doanh nghiệp chọn đối tác phù hợp, trong khi các hiệp định thương mại mang lại lợi thế thuế đáng kể tại thị trường Mỹ so với Trung Quốc.

Đồng thời, ông cho biết khả năng “làm nhanh và học nhanh” của nhà máy Việt Nam cũng là một lợi thế lớn, bởi chỉ cần thống nhất phương án, họ có thể chuyển đổi quy trình trong vòng một tuần.

Dù vậy, chuỗi cung ứng trong nước vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn. Phần lớn nhà máy chỉ làm gia công và không có bộ phận R&D nên khó phát triển sản phẩm theo yêu cầu thị trường Amazon. Nhiều nhà máy không thể tái tạo mẫu có sẵn do thiếu đội ngũ kỹ thuật và thiết kế.

Khoảng 60% nguyên phụ liệu vẫn phải nhập từ Trung Quốc, khiến sản xuất thiếu linh hoạt. Các nhà máy lớn từng thử bán hàng trên Amazon nhưng không phù hợp với mô hình sản xuất nhanh, đa mẫu và số lượng nhỏ. Trong khi đó, các xưởng vừa và nhỏ lại có khả năng đáp ứng tốt hơn.

Theo ông Nhu, để phát triển bền vững trên Amazon, doanh nghiệp Việt cần xây dựng chuỗi cung ứng linh hoạt hơn. Ông dẫn ví dụ mô hình “flexibility supply chain” mà Shein áp dụng khả năng sản xuất cả ít lẫn nhiều trong thời gian ngắn là hướng tiếp cận đáng tham khảo.

Với Coolmate, việc kết hợp nhà máy lớn cho các đơn hàng sản lượng lớn và xưởng nhỏ cho những đơn hàng cần tốc độ giúp doanh nghiệp chủ động và phản ứng nhanh hơn với nhu cầu thị trường Mỹ.

Ông cũng cho rằng doanh nghiệp Việt nên tập trung vào phân khúc là thế mạnh của Việt Nam thay vì cạnh tranh ở các dòng sản phẩm cơ bản có biên lợi nhuận thấp.

“Muốn bán được giá cao và duy trì lợi nhuận, doanh nghiệp phải làm thương hiệu và kể được câu chuyện sản phẩm tới khách hàng Mỹ”, ông Nhu nhận xét.

Trước đó, ngày 3/11, Coolmate vừa công bố hoàn tất vòng gọi vốn Series C do Vertex Growth Fund dẫn dắt, với sự tham gia của Cool Japan Fund, Youngone CVC, cùng các nhà đầu tư hiện hữu Vertex Ventures SEA & India và Kairous Capital.

Thương vụ cùng lúc quy tụ ba quỹ đầu tư quốc tế đến từ Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc – những trung tâm tài chính và sản xuất lớn của khu vực, cho thấy tiềm năng ngày càng rõ rệt của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tạo ra sản phẩm tiêu dùng mang tầm quốc tế.

Việc huy động thành công vốn đầu tư Series C mở ra giai đoạn tăng trưởng mới với 3 hướng chiến lược trọng tâm của thương hiệu.

Thứ nhất là mở rộng sang khách hàng nữ (Go Women). Trước đó, vào tháng 3/2025, Coolmate ra mắt dòng sản phẩm thể thao dành cho nữ, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chiến lược mở rộng thị trường.

Thứ hai là mở rộng kênh bán hàng trực tiếp (Go Offline). Đón đầu xu hướng mua sắm trải nghiệm, Coolmate dự kiến khai trương cửa hàng đầu tiên vào cuối tháng 12/2025, mang đến không gian mua sắm hiện đại, nơi khách hàng có thể trực tiếp cảm nhận chất liệu, thiết kế và tinh thần “Made in Vietnam”.

Và cuối cùng là mở rộng ra thị trường quốc tế (Go Global). Thành công tại Mỹ với sản phẩm tất thể thao đạt danh hiệu “Best Seller” trên Amazon nhờ hơn 25.000 đơn hàng mỗi tháng trở thành nền tảng để mở rộng ra tại Mỹ và các nước khác, trong đó trọng tâm là các nước Đông Nam Á và mục tiêu 50% doanh thu quốc tế vào năm 2030.

Về kế hoạch dài hạn, ông Nhu cho biết Coolmate đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành thương hiệu thời trang mang tính biểu tượng của Việt Nam, đạt doanh thu 500 triệu USD và có mặt tại nhiều thị trường.

“Cơ hội để doanh nghiệp Việt đi quốc tế qua Amazon đang lớn hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây”, CEO Coolmate nhận định.

Và điều quan trọng nhất là đặt mục tiêu rõ ràng, kiên trì và dám bước ra thị trường lớn để tạo ra bước tiến của riêng mình.

Ver2Solution theo Nhịp sống thị trường

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trong Nước

Hải Phòng thúc đẩy phát triển thương mại điện tử

Published

on

Theo kế hoạch về phát triển thương mại điện tử trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2026 vừa được chính quyền thành phố ban hành, thành phố đặt mục tiêu duy trì tốc độ phát triển thương mại điện tử của Hải Phòng trong nhóm dẫn đầu cả nước.

Thành phố Hải Phòng kỳ vọng sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại điện tử thông qua các chỉ số định lượng cụ thể.

Theo đó, phấn đấu tỷ lệ dân số trưởng thành tham gia mua sắm trực tuyến đạt từ 65-68%; doanh số bán lẻ thương mại điện tử tăng trưởng mạnh mẽ từ 20-25% so với năm 2025, đóng góp khoảng 17-20% vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của thành phố; 100% thủ tục hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử được giải quyết đúng và trước hạn; đồng thời, nỗ lực giảm tỷ lệ website vi phạm quyền lợi người tiêu dùng xuống dưới 10%; tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử đạt khoảng 65-70%.

Đáng chú ý, thành phố thúc đẩy mạnh mẽ hóa đơn điện tử với mục tiêu trên 85% giao dịch thương mại điện tử sử dụng loại hình này; tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong thương mại điện tử phấn đấu đạt từ 75-80%; đào tạo, tập huấn kỹ năng thương mại điện tử cho khoảng 6.000-8.000 lượt cán bộ quản lý và tổ chức, cá nhân.

Có 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được đề ra, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp. Cụ thể là: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thương mại điện tử với việc thành phố sẽ tập trung rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính đồng bộ với Luật Thương mại điện tử; xây dựng quy chế phối hợp quản lý và phát triển hoạt động thương mại điện tử trên địa bàn; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi gian lận, hàng giả, hàng nhái trên môi trường mạng; tăng cường quản lý thuế đối với kinh doanh nền tảng số để chống thất thu ngân sách.

Cùng với đó là phát triển thương mại điện tử trong doanh nghiệp và cộng đồng, được xem là giải pháp mang tính đòn bẩy nhằm hỗ trợ mở rộng thị trường cho các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP và hàng hóa làng nghề truyền thống. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thương mại điện tử, trong đó khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng trên địa bàn tích hợp nội dung thương mại điện tử vào chương trình giảng dạy, với mục tiêu đạt tỷ lệ hơn 55% cơ sở thực hiện.

Thành phố cũng tiếp tục thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại các cơ sở phân phối, chợ truyền thống và trong thanh toán dịch vụ công như điện, nước…

Ver2Solution theo Báo Nhân Dân

Continue Reading

Trong Nước

Doanh thu tăng trên 11% trong tháng 4/2025 các dịch vụ tiêu dùng phục vụ cho mùa du lịch hè

Published

on

Nhu cầu tiêu dùng, mùa du lịch hè của người dân tăng trong các kỳ nghỉ lễ, Tết cùng với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao là các nhân tố đóng góp tích cực cho tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ…

Theo số liệu công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2025 ước tăng 11,1% trong mùa du lịch hè so với cùng kỳ năm trước.

Mức tăng 2 con số được Cục Thống kê chỉ ra là do nhu cầu tiêu dùng, du lịch của người dân tăng trong các kỳ nghỉ lễ, Tết cùng với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao là các nhân tố đóng góp tích cực cho tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ từ đầu năm đến nay.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,9% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 24,5%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 4/2025 ước đạt 582,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, doanh thu nhóm hàng vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 10,9%; lương thực, thực phẩm tăng 10,0%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,9%; hàng may mặc tăng 6,6%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 18,8%; du lịch lữ hành tăng 46,1%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.285,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,6%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,7% (cùng kỳ năm 2024 tăng 5,4%).

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.752.5 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,7% tổng mức và tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, nhóm hàng vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 12,6%; lương thực, thực phẩm tăng 9,8%; may mặc tăng 7,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,9%.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Hải Phòng tăng 9,0%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,5%; Cần Thơ tăng 8,1%; Đà Nẵng tăng 7,7%; Hà Nội tăng 7,4%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành 4 tháng đầu năm giai đoạn 2021-2025. Nguồn: Cục Thống kê.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành 4 tháng đầu năm giai đoạn 2021-2025. Nguồn: Cục Thống kê.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 270,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 4 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Ninh tăng 19,4%; Đà Nẵng tăng 18,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 15,9%; Hà Nội tăng 15,8%; Hải Phòng tăng 15,2%; Cần Thơ tăng 11,1%.

Đặc biệt, chính sách thị thực thuận lợi, các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch được đẩy mạnh cùng với tổ chức các ngày lễ lớn của dân tộc đã thu hút khách quốc tế đến Việt Nam tiếp tục tăng cao.

Trong tháng 4/2025, số lượng khách quốc tế đến nước ta đạt 1,65 triệu lượt người, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 7,67 triệu lượt người, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 30,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3% tổng mức và tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu du lịch của người dân tăng cao trong các ngày lễ, Tết và đặc biệt là đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Một số địa phương có doanh thu 4 tháng đầu năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, gồm: Đồng Nai tăng 29,7%; Hà Nội tăng 25,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 25,3%; Quảng Ninh tăng 23,5%; Đà Nẵng tăng 22,3%; Bình Dương tăng 19,9%.

Doanh thu dịch vụ khác 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 232,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,2% tổng mức và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương đạt doanh thu bốn tháng đầu năm 2025 cao, gồm: Cần Thơ tăng 27,5%; Quảng Ninh tăng 13,6%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,0%; Khánh Hòa tăng 11,1%; Hà Nội tăng 6,9%; Hải Phòng tăng 5,6%.

Ver2Solution theo Vneconomy 

Continue Reading

Trong Nước

Xu hướng thói quen tiêu dùng người Việt năm 2026

Published

on

Ver2Solution phân tích tổng hợp dữ liệu nghiên cứu từ nhiều nguồn uy tín, chúng tôi đánh giá từ năm 2026 thói quen tiêu dùng của người Việt đã dịch chuyển mạnh mẽ từ việc “tích trữ tài sản” sang “tích lũy giá trị sống”. Sự thay đổi này không hẳn là không tiết kiệm, mà là một kiểu tiết kiệm có tính toán (Calculated Spending): họ sẵn sàng cắt giảm những chi phí lãng phí, rập khuôn để dồn tiền vào những thứ mang lại hạnh phúc tức thì và sự phát triển cá nhân.

Dưới đây là chi tiết các hành vi và thói quen tiêu dùng mới nhất đang định hình thị trường Việt Nam:

1. Tư duy “Me-first” & “Self-love” (Ưu tiên bản thân)

Thay vì hy sinh mọi thứ cho tương lai xa vời hoặc cho vẻ ngoài hào nhoáng để người khác ngắm nhìn, người tiêu dùng (đặc biệt là Gen Z và Millennials) tập trung vào sự thỏa mãn của chính mình.

  • Chi cho sức khỏe tinh thần: Doanh số các sản phẩm như nến thơm, trà thảo mộc, các ứng dụng thiền định và các buổi workshop chữa lành tăng vọt.

  • Chăm sóc sức khỏe chủ động: Gần 56% người Việt dự định tăng chi cho y tế và thực phẩm chức năng. Họ không đợi có bệnh mới chữa mà chi tiền cho việc tầm soát, dinh dưỡng cá nhân hóa và các thiết bị theo dõi sức khỏe đeo tay.

2. Dịch chuyển từ “Sở hữu” sang “Trải nghiệm”

Người Việt bắt đầu nhận ra vật chất có thể mất giá, nhưng ký ức thì không.

  • Du lịch cá nhân hóa (Tailor-made travel): Không còn chuộng đi tour đoàn đông đúc. Xu hướng năm 2026 là các tour trekking, du lịch bảo tồn, hoặc các chuyến đi “không lịch trình” để tự mình khám phá văn hóa bản địa.

  • Ẩm thực trải nghiệm: Khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn cho một bữa ăn có “câu chuyện”, có không gian thiết kế độc đáo hoặc quy trình chế biến biểu diễn tại bàn thay vì chỉ là ăn no.

3. Tiêu dùng “Đủ dùng” & “Đáng tiền” (Value-for-money)

Tiết kiệm năm 2026 không phải là mua đồ rẻ nhất, mà là mua đồ dùng được lâu nhất.

  • Triết lý “Less is More”: Thay vì mua 10 chiếc áo rẻ tiền nhanh hỏng, người tiêu dùng chọn mua 2 chiếc áo chất lượng cao, bền bỉ và đa năng (có thể mặc đi làm lẫn đi chơi).

  • Tư duy dữ liệu: Người dùng sử dụng AI để so sánh giá, đọc review thực tế từ KOC 2.0 (những người review trung thực, không quảng cáo lố) trước khi xuống tiền. Họ cực kỳ dị ứng với các hình thức “seeding” ảo.

4. Lối sống Xanh & Bền vững (Sustainability)

Đây không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành tiêu chuẩn chọn lựa hàng hóa:

  • Ưu tiên sản phẩm đạo đức: Người Việt quan tâm đến việc bao bì có tái chế được không, doanh nghiệp có đối xử tốt với nhân viên không.

  • Ăn chay và sống thuần chay: Các dịp “Tết Chay”, “Tháng Chay” hay các nhà hàng thuần chay mọc lên như nấm, đáp ứng nhu cầu thanh lọc cơ thể và bảo vệ môi trường.

5. Ngôi nhà là “Trung tâm vũ trụ”

Sau các biến động, ngôi nhà không chỉ là nơi ngủ mà là nơi tích hợp mọi hoạt động.

  • Home-tainment: Đầu tư mạnh vào dàn âm thanh, máy chiếu tại gia, máy pha cà phê chuyên nghiệp để tận hưởng cảm giác “chill” ngay tại nhà thay vì ra quán.

  • Smart-home tiện lợi: Các thiết bị gia dụng tự động (robot hút bụi, nồi chiên hơi nước, máy rửa bát) được coi là khoản đầu tư để “mua lại thời gian” cho bản thân.

6. Mua sắm không điểm dừng (Seamless Journey)

  • Social Commerce & Live-shopping: Người Việt thích vừa giải trí vừa mua sắm. Các phiên livestream không chỉ đơn thuần là bán hàng mà là một show diễn kỹ năng và kiến thức.

  • Kỳ vọng về tốc độ: “Giao hàng trong 2h” đã trở thành tiêu chuẩn. Nếu một thương hiệu giao hàng quá lâu (trên 3 ngày), khả năng khách hàng hủy đơn hoặc không quay lại là rất cao.

Theo Ver2Solution người Việt năm 2026 đang tiêu dùng theo kiểu “Tận hưởng có trách nhiệm”. Họ không tiêu xài hoang phí, nhưng cũng không tằn tiện đến mức khắc khổ. Họ chi tiền để nâng cấp chất lượng sống và khẳng định bản sắc cá nhân, quan tâm cảm xúc nhiều hơn.

Để chạm đúng vào tâm lý “Chi tiền cho trải nghiệm và giá trị sống” của người Việt năm 2026, kịch bản livestream của bạn cần thoát khỏi lối mòn “hét giá – chốt đơn” truyền thống. Hãy biến phiên live thành một buổi chia sẻ phong cách sống (Lifestyle Sharing).

💡 3 Mẹo “Thôi miên” khách hàng năm 2026:

  1. Dùng ngôn ngữ “Vị nhân sinh”: Thay vì nói “Áo này chất vải lanh”, hãy nói “Mặc áo này đi biển, gió thổi qua là thấy mát lịm, lên hình màu này cực kỳ tôn da”.

  2. Minh chứng thực tế (Social Proof): Đưa điện thoại lên màn hình cho khách xem những feedback (đã xin phép) hoặc ảnh khách check-in đẹp với sản phẩm của bạn.

  3. Thái độ “Chuyên gia”: Đừng chỉ là người bán, hãy là người tư vấn. Nếu khách hỏi đi leo núi nên mang gì, hãy thành thật khuyên họ chọn sản phẩm phù hợp thay vì cố bán món đắt nhất.

Tổng hợp phân tích nhiều nguồn.
Ver2Solution Research

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .