Connect with us

Pháp Luật

Sửa Luật Thương mại điện tử kỳ vọng tạo ra sân chơi công bằng

Published

on

Dự thảo Luật Thương mại điện tử kỳ vọng tạo ra sân chơi công bằng và người dùng có quyền lựa chọn nhiều hơn.

Từ giữa tháng 7/2025, TikTok Shop thực hiện tăng phí dịch vụ đối với nhà bán hàng trên sàn, cao gấp nhiều lần mức cũ. Phí hoa hồng nền tảng mới áp dụng cho nhà bán hàng tiêu chuẩn tăng từ 4% lên 10 – 12% với mặt hàng thời trang, 4-12% với mặt hàng nhà cửa và đời sống hay 8,5 – 12% với hàng tạp hóa, sức khỏe – làm đẹp, mẹ bé…

Nếu cộng thêm với phí giao dịch là 5% trên mỗi đơn hàng giao thành công, nhà bán hàng trên TikTok Shop có thể phải trả đến 17% doanh thu, chưa tính các chi phí khác như khuyến mãi, tiền vận chuyển.

Động thái này diễn ra không lâu sau khi các nền tảng lớn khác như Shopee cũng đã có những điều chỉnh tương tự trong lộ trình tăng phí của mình.

Việc các nền tảng thương mại điện tử (TMĐT) điều chỉnh phí dịch vụ là một hoạt động kinh doanh bình thường nhằm tối ưu hóa vận hành và lợi nhuận. Tuy nhiên, khi các sàn lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gần như đồng loạt tăng phí sau một thời gian dài trợ giá đã làm xuất hiện nhiều ý kiến về sự thay đổi trong cấu trúc thị trường và “luật chơi”.

Từ trợ giá đến “khóa” hệ sinh thái

Có thể thấy, giai đoạn đầu thâm nhập thị trường Việt Nam của các sàn TMĐT lớn được đánh dấu bằng những chiến dịch trợ giá và khuyến mãi quy mô lớn. Các chương trình miễn phí vận chuyển, vô số voucher giảm giá được tung ra nhằm thu hút một lượng người dùng và nhà bán hàng khổng lồ trong thời gian ngắn nhất. Chiến lược này tuy tốn kém, nhưng đã tạo ra một vị thế gần như không thể thiếu của các sàn trong hoạt động kinh doanh của hàng triệu người bán.

Khi đã có được thị phần và sự phụ thuộc từ người bán, các nền tảng bắt đầu củng cố vị thế bằng cách xây dựng một hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ khép kín. Một trong những biểu hiện rõ nhất là việc người dùng không còn được tự do lựa chọn đơn vị vận chuyển.

Thay vào đó, các thuật toán của sàn sẽ tự động chỉ định một đơn vị logistics “chiến lược”, thường là công ty con hoặc đối tác thân hữu của nền tảng đó. Tương tự, một số sàn cũng thiết lập ví điện tử thanh toán riêng và không cho phép kết nối với các ví điện tử khác, hướng người dùng vào việc sử dụng dịch vụ do chính họ cung cấp.

Cách làm này về cơ bản đã thay đổi vai trò của sàn từ một nền tảng trung gian kết nối trở thành một nhà cung cấp dịch vụ toàn diện, nơi họ kiểm soát những khâu quan trọng nhất trong quá trình giao dịch.

Hoàn thiện khung pháp lý để phù hợp với sự phát triển của kinh tế số 

Các chuyên gia đánh giá, khi một nền tảng kiểm soát được cả lượng người dùng lẫn các dịch vụ hỗ trợ quan trọng như logistics và thanh toán, họ sẽ có một quyền lực thị trường đáng kể. Lúc này, việc điều chỉnh tăng phí sàn trở thành một bước đi kinh doanh có thể dự báo trước.

Nhà bán hàng, vốn đã phụ thuộc vào lượng truy cập khổng lồ từ nền tảng, gần như không có lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận mức phí mới. Việc chuyển đổi sang một nền tảng khác đồng nghĩa với rủi ro mất đi doanh thu và tệp khách hàng quen thuộc.

Về lâu dài, điều này có thể tạo ra các tác động đa chiều. Chi phí kinh doanh trên sàn tăng lên, lợi nhuận của nhà bán hàng (phần lớn là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ) sẽ bị ảnh hưởng. Khảo sát nhiều nhà bán hàng trên sàn TMĐT cho biết, để duy trì hoạt động, họ đã tính đến phương án tăng giá sản phẩm. Khi đó, người tiêu dùng cuối cùng sẽ là người chịu tác động.

Thực tế này cũng được ghi nhận ở các thị trường quốc tế. Các cơ quan cạnh tranh tại nhiều quốc gia đã tiến hành điều tra và xử phạt các tập đoàn công nghệ lớn vì những hành vi tương tự, như sử dụng vị thế thống lĩnh để ưu ái dịch vụ “nội bộ” hoặc áp các điều kiện giao dịch bất lợi cho đối tác. Điều này cho thấy việc duy trì một môi trường cạnh tranh cân bằng trong lĩnh vực TMĐT là một thách thức chung trên toàn cầu.

Trước bối cảnh này, việc hoàn thiện khung pháp lý để phù hợp với sự phát triển của kinh tế số được xem là một yêu cầu cấp thiết. Dự thảo Luật Thương mại điện tử đang được Bộ Công Thương xây dựng và lấy ý kiến được kỳ vọng sẽ đưa ra những giải pháp cho các vấn đề trên.

Trong đó, dự thảo đề xuất quy định các nền tảng số lớn Chủ quản nền tảng TMĐT trung gian là nền tảng số lớn “Không được áp đặt người bán, người mua phải sử dụng dịch vụ thanh toán của một nhà cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ logistics của một nhà cung cấp mà không có lý do chính đáng”.

Quy định này trao lại quyền lựa chọn cho người bán và người mua, tuy nhiên các nền tảng có thể “lách luật” theo hướng chỉ cho phép người dùng lựa chọn trong 2 nhà cung cấp thay vì mở toàn quyền lựa chọn cho người tiêu dùng với bất kỳ nhà cung cấp nào.

Lãnh đạo một công ty logistics trong nước cho rằng, quy định này nên sửa thành “Không được cản trở, hạn chế người dùng thực hiện quyền lựa chọn tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán và dịch vụ logistics”.

Nội hàm “không được cản trở, hạn chế người dùng thực hiện quyền lựa chọn” có ý nghĩa rộng hơn so với “không được áp đặt” trong Dự thảo Luật. Đồng thời, quy định này cũng được tiếp thu từ quy định của Điều 6.6. Đạo luật Thị trường Kỹ thuật số của Liên minh Châu Âu.

Sửa Luật Thương mại điện tử kỳ vọng tạo ra sân chơi công bằng- Ảnh 2.

Dự thảo Luật Thương mại điện tử đang được Bộ Công Thương xây dựng và lấy ý kiến được kỳ vọng sẽ đưa ra những giải pháp cho một môi trường cạnh tranh cân bằng

Một quy định khác được nêu trong dự thảo là Tổ chức cung cấp dịch vụ logistics hỗ trợ thương mại điện tử có trách nhiệm “Có cơ chế và biện pháp kiểm tra thông tin, hồ sơ, giấy tờ kèm theo hàng hóa trước khi thực hiện vận chuyển; từ chối vận chuyển hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm kinh doanh, hàng giả, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc hàng hóa vi phạm quy định pháp luật khác”.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc yêu cầu chủ thể vận chuyển phải tự xác định tính hợp pháp của hàng hóa và hệ thống hóa các loại hóa đơn, chứng từ đi kèm là điều vô cùng khó khăn. Đặc thù pháp lý mỗi loại hàng hóa sẽ có những yêu cầu chứng từ kèm theo khác nhau, các chứng từ này rất đa dạng và phức tạp. Bên vận chuyển không thể có đủ năng lực chuyên môn để xác định tính hợp pháp của chứng từ.

Do đó, một số chuyên gia logistics cho rằng nên sửa quy định này thành: Tổ chức cung cấp dịch vụ logistics hỗ trợ thương mại điện tử có trách nhiệm “a) Có cơ chế kiểm tra nội dung hàng hóa trước khi thực hiện vận chuyển và phải từ chối vận chuyển hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm kinh doanh, từ chối hàng giả, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc hàng hóa vi phạm quy định pháp luật khác nếu phát hiện trong quá trình cung cấp dịch vụ”.

Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề cạnh tranh bằng năng lực tài chính ở giai đoạn đầu, các chuyên gia cho rằng dự thảo cũng cần đưa ra quy định các nền tảng lớn “Không bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Điều này nhằm ngăn chặn các hành vi “đốt tiền” để giành thị phần, một chiến lược có thể làm méo mó thị trường và loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ hơn.

Những quy định như vậy vốn là xu thế chung trên thế giới nhằm kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nền tảng thống lĩnh.

Chẳng hạn, Đạo luật Thị trường Kỹ thuật số (Digital Markets Act – DMA) của Liên minh Châu Âu, tại Điều 6, đã đưa ra một danh sách các nghĩa vụ mà các “gatekeeper” (nền tảng gác cổng) phải tuân thủ, trong đó bao gồm việc cấm tự ưu ái (self-preferencing), tức là không được đối xử với sản phẩm, dịch vụ của mình thuận lợi hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên cùng nền tảng.

Tương tự, Hàn Quốc cũng đang thúc đẩy các dự luật nhằm điều chỉnh hành vi của các nền tảng lớn, trong đó “tự ưu ái” và các hành vi ngăn cản cạnh tranh khác là đối tượng bị giám sát chặt chẽ. Việc cấm bán dưới giá thành có thể được xem là một công cụ để thực thi nguyên tắc không tự ưu ái này, ngăn các nền tảng dùng sức mạnh tài chính để loại bỏ đối thủ một cách phi cạnh tranh.

Theo các chuyên gia, sự ra đời của một hành lang pháp lý rõ ràng không nhằm mục đích kìm hãm sự phát triển của các nền tảng, mà là để đảm bảo thị trường vận hành một cách minh bạch, bền vững. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp nhỏ và người tiêu dùng, mà còn góp phần vào sự phát triển lâu dài và lành mạnh của toàn bộ nền kinh tế số Việt Nam.

Ver2Solution theo VTV

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Pháp Luật

Từ vụ Hải “Sapa TV”: Giải pháp ngăn hàng kém chất lượng “đổ bộ” livestream

Published

on

Vụ Hải “Sapa TV” bị khởi tố, cùng nhiều vụ việc tương tự trước đó, cho thấy hình thức bán hàng qua livestream và qua các KOL, KOC đang bộc lộ nhiều lỗ hổng.

Ngày 24/8, Công an tỉnh Lào Cai khởi tố, bắt tạm giam Vũ Hoàng Hải (Hải “Sapa TV”), sở hữu kênh TikTok hơn 5,2 triệu người theo dõi.

Theo cơ quan điều tra, từ năm 2022, Hải chỉ đạo vợ ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm “thịt trâu sấy khô tê cay”, được làm từ thịt trâu đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ, rồi quảng cáo thành “thịt trâu sấy đặc sản Tây Bắc”. Tổng giá trị giao dịch trong giai đoạn 2022-2025 khoảng 30 tỷ đồng. Hải bị khởi tố về tội Lừa dối khách hàng; vụ án đang trong giai đoạn điều tra.

Trước đó, vụ kẹo Kera đã có bản án. Ngày 19/11/2025, TAND TPHCM tuyên phạt hoa hậu Nguyễn Thúc Thùy Tiên, Nguyễn Thị Thái Hằng (Hằng Du Mục) và Phạm Quang Linh (Quang Linh Vlogs) mỗi người 2 năm tù về tội Lừa dối khách hàng.

Theo kết luận điều tra, từ ngày 12/12/2024 đến 14/3/2025, có 56.385 khách hàng mua tổng cộng 129.617 hộp kẹo Kera, thu về hơn 17,5 tỷ đồng, trong đó thu lợi bất chính hơn 12,4 tỷ đồng. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy sản phẩm không chứa các thành phần rau củ như công bố mà chứa sorbitol với hàm lượng trung bình 33,8%, không được ghi trên nhãn…

Điểm chung của hai vụ việc là sản phẩm được giới thiệu, quảng bá qua mạng xã hội và livestream, với người bán hoặc người quảng cáo có lượng người theo dõi lớn trên các nền tảng số.

Những vụ việc tương tự cũng không hiếm.

“Siro ăn ngon Hải Bé” từng được quảng bá mạnh trên TikTok, Facebook, Shopee trước khi chủ kênh “Gia đình Hải Sen” và giám đốc doanh nghiệp bị khởi tố về tội buôn bán hàng giả là thực phẩm.

Trong lĩnh vực mỹ phẩm, vụ kem chống nắng Hanayuki Sunscreen Body cũng bị khởi tố để điều tra hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả.

Tại tọa đàm “Minh bạch thông tin sản phẩm – Chung tay bảo vệ người tiêu dùng” ngày 24/8, ông Nguyễn Quang Huy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường TPHCM, cho biết minh bạch thông tin hàng hóa vốn là yêu cầu trọng tâm của quản lý nhà nước để bảo vệ người tiêu dùng. Khi thương mại điện tử và bán hàng đa kênh bùng nổ, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.

Khác với mua bán truyền thống, khi mua hàng trực tuyến người tiêu dùng gần như không thể cầm, xem hay kiểm tra trực tiếp chất lượng sản phẩm. Thêm vào đó, hàng hóa thường đi qua nhiều khâu trung gian trong một chuỗi cung ứng phức tạp. Hai yếu tố này khiến người mua rất khó xác minh hàng có hợp pháp hay không, và dễ mua phải hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc.

Thực tế trên môi trường mạng, một video hoặc buổi livestream có thể tiếp cận hàng trăm nghìn người trong thời gian ngắn. Trong khi đó, người mua thường dựa vào lời giới thiệu và uy tín cá nhân của người bán thay vì kiểm tra thông tin từ nguồn độc lập.

Thượng tá Nguyễn Thành Danh, Phó Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường, Công an TPHCM, cho biết một số thủ đoạn thường gặp là quảng cáo sản phẩm dưới danh nghĩa hàng “xách tay”, “đặc sản”, đi kèm các chương trình “giảm giá sốc”, “chốt đơn trong 30 giây”. Những cách thức này tạo tâm lý thúc giục, khiến người mua có ít thời gian kiểm tra nguồn gốc và chất lượng trước khi đặt hàng.

Hậu kiểm không thể thay thế trách nhiệm của doanh nghiệp

Ông Lê Minh Hải, Phó Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TPHCM cho hay, phần lớn sản phẩm hiện nay được quản lý theo hướng hậu kiểm. Doanh nghiệp tự công bố hoặc đăng ký bản công bố, còn cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát sau khi sản phẩm đã lưu thông.

Điều này đồng nghĩa hàng hóa có thể tiếp cận số đông người mua trước khi thông tin về chất lượng, nguồn gốc được xác minh đầy đủ. Trên môi trường mạng, với tốc độ lan truyền của livestream và nội dung quảng cáo, khoảng thời gian này càng bị rút ngắn.

Vì vậy, minh bạch thông tin không thể chỉ được đặt ở khâu kiểm tra sau khi hàng hóa đã bán ra. Doanh nghiệp phải chủ động kiểm soát nguồn gốc, chất lượng và dữ liệu sản phẩm ngay trong quá trình sản xuất, phân phối.

Trong khi đó, ông Nguyễn Quang Huy cho rằng, hàng hóa khi đưa vào giao dịch trực tuyến cần được định danh kỹ thuật rõ ràng. Các thông tin bắt buộc trên nhãn như nguồn gốc xuất xứ, thành phần, định lượng, hướng dẫn sử dụng, cảnh báo an toàn cần được số hóa, trong đó có thể áp dụng giải pháp truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và nhãn hàng hóa điện tử. Dữ liệu phải được công khai đầy đủ trên giao diện giao dịch để người tiêu dùng có cơ sở kiểm chứng và cơ quan chức năng có thể kiểm soát rủi ro.

Đây cũng là phần trách nhiệm trực tiếp của doanh nghiệp. Theo ông Huy, doanh nghiệp cần chủ động cung cấp, cập nhật và bảo đảm tính chính xác của thông tin về sản phẩm, nguồn gốc và chuỗi phân phối. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, người tiêu dùng có thêm cơ sở nhận biết hàng chính hãng, trong khi cơ quan quản lý có thể nhanh chóng nhận diện dấu hiệu bất thường.

Chặn hàng giả từ nguồn thay vì chờ xử lý

Trong 8 tháng đầu năm 2026, lực lượng Quản lý thị trường TPHCM đã kiểm tra, xử lý 826 vụ vi phạm liên quan đến hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng lậu trên các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội. Hơn 220.000 sản phẩm bị tạm giữ, tổng số tiền xử phạt hơn 8,5 tỷ đồng; 7 vụ được chuyển cơ quan điều tra.

Những con số này cho thấy việc kiểm soát hàng hóa trên môi trường số vẫn đặt ra áp lực lớn đối với cơ quan quản lý. Theo ông Huy, lực lượng Quản lý thị trường sẽ tiếp tục phối hợp với các sở, ngành, cơ quan chức năng để chia sẻ, kết nối và khai thác thông tin về hàng hóa, nguồn gốc xuất xứ, chủ thể kinh doanh và quá trình lưu thông.

Trọng tâm là chuẩn hóa, đồng bộ dữ liệu giữa các cơ quan, tăng cường ứng dụng công nghệ trong thu thập, phân tích và đối chiếu thông tin. Qua đó, cơ quan quản lý có thể phát hiện nhanh dấu hiệu bất thường, phục vụ kiểm tra, xử lý vi phạm và hạn chế việc doanh nghiệp phải cung cấp lặp lại cùng một loại thông tin cho nhiều cơ quan.

Ở phía doanh nghiệp, Thượng tá Nguyễn Thành Danh cho rằng trước hết cần chủ động đăng ký quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, bao bì và mã định danh sản phẩm. Đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ sản phẩm, thương hiệu và xử lý hành vi sao chép, sử dụng trái phép, đặc biệt trên Internet và mạng xã hội.

Doanh nghiệp đồng thời phải tuân thủ các quy định về đăng ký kinh doanh, thuế, hóa đơn, nguồn gốc xuất xứ và chất lượng hàng hóa; phối hợp với cơ quan chức năng khi phát hiện hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, gian lận thương mại trên môi trường mạng.

Các doanh nghiệp được yêu cầu cung cấp, cập nhật dữ liệu phục vụ xây dựng nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng; chủ động tạo lập, kết nối, chia sẻ dữ liệu liên quan đến sản phẩm và thực hiện nghĩa vụ truy xuất, xác thực khi cơ quan chức năng yêu cầu.

Cùng với doanh nghiệp, nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội cũng phải tăng cường xác thực người bán, kiểm soát thông tin hàng hóa, kịp thời phát hiện và gỡ bỏ nội dung, gian hàng có dấu hiệu vi phạm.

Ver2Solution theo Dân Trí

Continue Reading

Pháp Luật

Chiêu trò trốn thuế từ Thu Hường đến Huấn Hoa Hồng, Phú Lê

Published

on

Không xuất hóa đơn, để doanh thu ngoài sổ sách, tiền chuyển qua tài khoản cá nhân… là những chiêu trò nhằm giấu doanh thu, trốn thuế của một số đối tượng bán hàng trên mạng, từ Thu Hường đến Huấn Hoa Hồng, Phú Lê.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Ngọc Tú, chuyên gia thuế, cho rằng điểm chung trong các vụ án Bùi Xuân Huấn (biệt danh Huấn Hoa hồng), Nguyễn Thị Thu Hường hay Lê Văn Phú (Phú Lê) bị khởi tố là do không xuất đầy đủ hóa đơn giá trị gia tăng. Doanh thu không hạch toán đầy đủ vào sổ sách kế toán theo quy định, nhằm trốn thuế.

Trong vụ Phú Lê, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội xác định từ năm 2021 đến 2025, Công ty TNHH dịch vụ thương mại xuất nhập khẩu Thiên Phú của vợ chồng Phú Lê nhập hàng rồi bán ra thị trường nhưng không lập hóa đơn, kê khai thuế đầy đủ.

Hàng hóa đã bán nhưng trên sổ sách vẫn được ghi nhận là hàng tồn kho, tạo khoảng cách giữa lượng hàng thực tế đã bán và doanh thu được ghi nhận.

Với Huấn Hoa Hồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an bước đầu xác định vợ chồng Huấn kinh doanh nước hoa với tổng doanh thu hơn 300 tỉ đồng nhưng không xuất đầy đủ hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán. Vụ án vừa được khởi tố và đang điều tra.

Vụ Nguyễn Thị Thu Hường đã được xét xử. Theo hồ sơ vụ án, Hường kinh doanh hàng hiệu đã qua sử dụng như túi xách, đồng hồ, kim cương, quần áo và phụ kiện của các thương hiệu nổi tiếng.

Cơ quan tố tụng xác định từ năm 2020 đến khi bị phát hiện vào tháng 6-2025, Hường bán hàng hoàn toàn qua Facebook nhưng không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế và cũng không kê khai doanh thu.

Doanh thu được xác định gần 835 tỉ đồng với số tiền thuế trốn là 12,5 tỉ đồng.

Theo ông Lê Văn Tuấn – Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, một cách thức để che giấu doanh thu của một số doanh nghiệp là thực hiện hai sổ.

Theo đó, một sổ nội bộ để lưu trữ nội bộ tại doanh nghiệp, ghi nhận đầy đủ nghiệp vụ doanh thu và chi phí thực tế xảy ra của hoạt động kinh doanh.

Sổ còn lại để báo cáo với cơ quan thuế, không phản ánh đầy đủ hoạt động kinh doanh, có doanh thu và lợi nhuận thấp hơn sổ nội bộ.

Giải mã những chiêu trò trốn thuế từ Hoàng Hường đến Huấn Hoa Hồng, Phú Lê - Ảnh 2.

Để che giấu doanh thu, trốn thuế, các đối tượng chuyển tiền bán hàng vào tài khoản cá nhân, hộ kinh doanh – Ảnh: AI tạo

Dòng tiền đi qua tài khoản cá nhân

Để giấu doanh thu, theo ông Tú, cách mà Thu Hường, Phú Lê… làm là chuyển tiền bán hàng vào tài khoản cá nhân thay vì tài khoản doanh nghiệp. Họ thành lập hệ sinh thái gồm nhiều doanh nghiệp do người thân đứng tên để chuyển tiền lòng vòng qua tài khoản cá nhân, hộ kinh doanh.

Như trong vụ Phú Lê, theo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội, hoạt động kinh doanh được tổ chức qua nhiều pháp nhân, gồm Công ty Thiên Phú, Công ty Thanh Quang Đăng và Công ty Thiên Phú Group.

Lã Thúy Kiều – vợ Phú Lê – nhiều lần thay đổi người đứng tên đại diện pháp luật các công ty, song hoạt động vẫn do Kiều và Phú trực tiếp chỉ đạo, điều hành.

Sau khi nhận tiền qua các tài khoản cá nhân, Kiều còn khai báo và nộp thuế dưới danh nghĩa hộ kinh doanh Lã Thúy Kiều.

Ngoài các tài khoản của công ty, vợ chồng Phú Lê đã sử dụng 10 tài khoản ngân hàng cá nhân để nhận tiền từ hoạt động kinh doanh, với tổng số tiền hơn 107 tỉ đồng mà không được hạch toán đầy đủ vào sổ sách công ty.

Với Nguyễn Thị Thu Hường, theo hồ sơ vụ án, Hường chuyển khoản thông qua tài khoản ngân hàng cá nhân và tài khoản đứng tên chồng.

Ông Lê Văn Tuấn cho rằng tình trạng này thường xảy ra khi doanh nghiệp bán hàng cho người tiêu dùng cá nhân thường không có nhu cầu lấy hóa đơn.

Thay vì nhận tiền vào doanh nghiệp, người bán yêu cầu khách chuyển tiền vào tài khoản cá nhân. Nếu khoản tiền bán hàng này không hoàn trả về doanh nghiệp để ghi nhận doanh thu và xuất hóa đơn, dòng tiền sẽ nằm ngoài hệ thống sổ sách của doanh nghiệp.

Theo ông Tú, khi hoạt động kinh doanh được phân tách qua nhiều pháp nhân, tài khoản và hộ kinh doanh, việc xác định doanh thu phải đối chiếu nhiều nguồn dữ liệu, thay vì chỉ dựa vào sổ sách của một doanh nghiệp.

Một thủ đoạn khác được cơ quan điều tra làm rõ trong vụ Phú Lê là lập hóa đơn khống.

Kiều bị cáo buộc chỉ đạo kế toán, nhân viên lập nhiều hóa đơn bán hàng khống để đối phó việc kiểm tra của cơ quan thuế.

Theo ông Tú, các mắt xích từ bán online, không xuất hóa đơn, để doanh thu ngoài sổ sách, tách dòng tiền qua tài khoản cá nhân đến lập hóa đơn khống có thể tạo thành một chuỗi, khiến việc xác định doanh thu thực tế phức tạp hơn, để trốn thuế. Hành vi của các đối tượng này không những làm thất thu ngân sách mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh.

Không còn dễ giấu doanh thu online

Theo Cục Thuế (Bộ Tài chính), ngành thuế đang từng bước triển khai quản lý thuế dựa trên phân tích dòng tiền, tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin với ngân hàng, trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển và các đơn vị liên quan.

Bà Lê Hoàng Oanh – Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) -cho biết theo Luật Thương mại điện tử có hiệu lực từ 1-7, người bán hàng trên nền tảng thương mại điện tử phải được xác thực, định danh.

Thông tin định danh được thống nhất với mã số thuế và số căn cước công dân. Người bán cũng phải sử dụng tài khoản thanh toán chính chủ của cá nhân, hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp để thực hiện giao dịch.

Dữ liệu người bán, người mua, giao dịch, thanh toán, logistics và hàng hóa được yêu cầu lưu trữ theo quy định, đồng thời tăng cường kết nối, chia sẻ với các cơ quan quản lý nhà nước.

“Dữ liệu là nền tảng quan trọng để giám sát thị trường, phát hiện vi phạm và xây dựng môi trường thương mại điện tử minh bạch”, bà Oanh nhấn mạnh.

Ver2Solution theo Tuổi Trẻ

Continue Reading

Pháp Luật

Thưởng đến 10 triệu đồng cho người tố giác hành vi không xuất hóa đơn điện tử

Published

on

Từ 1/7, người tiêu dùng tố giác hành vi không lập, không giao hóa đơn điện tử có thể được xem xét khen thưởng tối đa 10 triệu đồng.

Theo Nghị định 254, người tiêu dùng phát hiện và cung cấp thông tin về hành vi không lập, không giao hóa đơn điện tử khi mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có thể được xem xét khen thưởng nếu thông tin giúp cơ quan thuế xác minh và xử phạt vi phạm.

Người tố giác sẽ được khen thưởng khi đáp ứng đồng thời các điều kiện như cung cấp thông tin trung thực, chính xác, kịp thời; xác định được thời gian, địa điểm và đối tượng vi phạm; nội dung phản ánh đúng thực tế, đủ căn cứ để cơ quan thuế kiểm tra, xác minh và làm cơ sở ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Thông tin tố giác cần bao gồm thông tin về người bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ như tên, địa chỉ hoặc mã số thuế; kèm theo thông tin về giao dịch, hành vi không lập hoặc không giao hóa đơn điện tử, hoặc các tài liệu, chứng cứ liên quan (nếu có). Người tố giác cũng phải cung cấp thông tin liên hệ gồm họ tên, số điện thoại và số định danh cá nhân.

Người tiêu dùng có thể gửi thông tin phản ánh thông qua hệ thống hóa đơn điện tử hoặc Hệ thống thông tin quản lý thuế (như eTax Mobile), Cổng Dịch vụ công quốc gia, thư điện tử hoặc hệ thống tiếp nhận thông tin điện tử của cơ quan thuế, hoặc nộp trực tiếp tại cơ quan thuế, gửi bằng văn bản theo quy định.

Việc khen thưởng được thực hiện trên cơ sở kết quả xác minh của cơ quan thuế và quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Quá trình xét thưởng phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đồng thời bảo mật thông tin của người cung cấp thông tin.

Mỗi vụ việc chỉ được xem xét khen thưởng một lần. Trường hợp có nhiều người cùng cung cấp thông tin về một hành vi vi phạm, cơ quan thuế sẽ xem xét khen thưởng cho người cung cấp thông tin đầu tiên hoặc người có thông tin đầy đủ, có giá trị nhất theo xác nhận của cơ quan thuế.

Mức chi khen thưởng cho người tiêu dùng cung cấp thông tin phản ánh hành vi không lập và không giao hóa đơn điện tử đối với mỗi vụ việc tối đa bằng 10% số tiền xử phạt vi phạm hành chính, nhưng không vượt quá 10 triệu đồng/vụ việc. Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ quy định cụ thể về mức thưởng, hình thức, trình tự, thủ tục khen thưởng cũng như việc quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện.

Ver2Solution theo An Ninh Tiền Tệ 

Continue Reading

Đọc nhiều nhất

Copyright © 2024 Ver2solution.com .