Pháp Luật
Yêu cầu của Tổng Bí thư và quyền tự do kinh doanh của Nhân dân
Khi số lượng quy định về điều kiện kinh doanh quá nhiều mà chất lượng lại thấp chính là biểu hiện rõ nét của tư duy “không quản được thì cấm”, tạo ra hệ thống pháp luật thiên về kiểm soát hơn là kiến tạo, tạo cơ hội và không gian phát triển. Yêu cầu của Tổng Bí thư và quyền tự do kinh doanh của Nhân dân.
Có thể xóa tan thành tựu của Nghị định 15/2018/NĐ-CP
Trong cuộc tọa đàm gần đây về sửa đổi Nghị định 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm, một vị đại diện doanh nghiệp FDI đã bày tỏ sự bất lực rằng: “Như vậy, quy định trong dự thảo có thể xóa tan thành tựu của Nghị định 15/2018/NĐ-CP, thậm chí gây tốn kém hơn nữa”.
Để chứng minh, ông phân tích, dự thảo quy định tổng cộng 31 nội dung doanh nghiệp phải tự công bố, cao hơn nhiều so với 5 nội dung, theo Nghị định 15 hiện hành.
Bên cạnh đó, vẫn theo Nghị định 15, doanh nghiệp được sản xuất, kinh doanh ngay sau khi nộp hồ sơ. Trong khi đó, theo dự thảo sửa đổi, sau khi doanh nghiệp nộp hồ sơ, trong 7 ngày cơ quan quản lý sẽ đăng tải lên website, và trong vòng 3 tháng sau khi đăng tải sẽ soát xét hồ sơ. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp chỉ được sản xuất sau 3 tháng 7 ngày.
Xin kể lại vắn tắt tinh thần cải cách của Nghị định 15. Trước đây, Nghị định 38/2012/NĐ-CP về an toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế yêu cầu doanh nghiệp phải xin cấp Giấy tiếp nhận bản công bố hoặc Giấy xác nhận công bố thì mới được tiến hành sản xuất, kinh doanh.

CIEM ước tính mỗi năm có từ 35.000 đến 45.000 lượt doanh nghiệp phải làm thủ tục này. Trung bình, doanh nghiệp sẽ mất khoảng 4 tháng với chi phí 10 triệu đồng đối với thực phẩm thường và 30 triệu đồng đối với thực phẩm chức năng để hoàn tất thủ tục chứng nhận và công bố sự phù hợp.
Yêu cầu này, cùng rất nhiều yêu cầu khác, đã gây bức xúc cho cộng đồng doanh nghiệp trong một thời gian dài.
Sau nhiều nỗ lực của Chính phủ, Nghị định 15/2018/NĐ-CP được ban hành thay thế Nghị định 38, với phương pháp quản lý an toàn thực phẩm chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Thay vì phải xin xác nhận từ cơ quan Nhà nước, nay các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm được tự công bố. Sự thay đổi này giúp giảm đến 90% chi phí hành chính, tiết kiệm 10 triệu ngày công và 3.700 tỷ đồng mỗi năm cho doanh nghiệp, theo tính toán của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham).
Kể lại câu chuyện này để thấy quá trình cải cách thể chế trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm quả là gian nan. Lẽ ra, doanh nghiệp cần tập trung nguồn lực để nghiên cứu, phát triển, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, hơn là suốt ngày phải lo về thủ tục hành chính như thế này.
Điều kiện kinh doanh núp bóng tiêu chuẩn, quy chuẩn
Điều kiện kinh doanh đã nở rộ như nấm sau mưa, như chúng tôi đã phân tích trong bài “Bảo vệ quyền tự do kinh doanh”. Trên thực tế, các điều kiện kinh doanh còn “núp bóng” hoặc “ẩn” trong tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Một số quy chuẩn kỹ thuật yêu cầu doanh nghiệp phải có cơ sở vật chất nhất định, đáp ứng diện tích tối thiểu của các cơ sở sản xuất, hay yêu cầu chứng chỉ hành nghề của nhân sự ở một số bộ phận… khi sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ.
Những quy chuẩn “núp bóng” đó, về bản chất, chính là các điều kiện kinh doanh. Chẳng hạn, từng có đề xuất quy định điều kiện về diện tích, cơ sở vật chất… đối với siêu thị mini, cửa hàng tiện lợi và trung tâm thương mại. Không rõ những quy định như trên có mục tiêu quản lý nhà nước ra sao, nhưng rõ ràng chúng ảnh hưởng đến lợi ích của các bên liên quan, trước hết là những người đầu tư kinh doanh thương mại.
VCCI tính toán, mỗi năm có khoảng 20 luật, gần 150 nghị định và khoảng 600 thông tư được ban hành. Bên cạnh đó là hàng nghìn công văn điều hành, trong đó không ít công văn có chứa đựng quy phạm pháp luật.
Văn bản hướng dẫn thi hành các luật quá nhiều về số lượng, chồng chéo, trùng lặp, hay thay đổi về nội dung, gây nguy cơ tùy ý và khó dự đoán trong thực thi, tạo rủi ro cho doanh nghiệp và người dân.
Câu hỏi đặt ra là liệu có xuất hiện tình trạng khôi phục lại các điều kiện kinh doanh đã được bãi bỏ, hoặc ban hành mới các quy định bất hợp lý về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật như trường hợp dự thảo Nghị định 15 nói trên – trong “rừng” văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, gây cản trở cho doanh nghiệp?.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong bài viết “PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN – ĐÒN BẨY CHO MỘT VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG” rằng: Kinh tế tư nhân phải là lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia… Kinh tế tư nhân cần phấn đấu trở thành lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo, để đạt mục tiêu đóng góp khoảng 70% GDP vào năm 2030…
Ông khẳng định, điều này đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong hoạch định chính sách,… Vì thế, Nhà nước phải có phương thức quản lý phù hợp với cơ chế thị trường, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân. Cần xóa bỏ mọi rào cản, minh bạch hóa chính sách, loại bỏ lợi ích nhóm trong hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực, không phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong mọi chính sách.
Đồng thời, cần nhất quán quan điểm “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”, xây dựng chính sách làm yên lòng các nhà đầu tư, doanh nghiệp và doanh nhân. Quan trọng hơn, phải tạo dựng niềm tin mạnh mẽ giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, qua đó khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, đổi mới sáng tạo và tham gia vào các lĩnh vực kinh tế có tính chiến lược.
Doanh nghiệp, người dân trong nước gặp quá nhiều rào cản kinh doanh như vậy thì làm sao phát triển, lớn lên để trở thành động lực quan trọng nhất?.
Cũng xin trích dẫn những phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm đang tạo nên sự thay đổi lớn để đất nước bước vào kỷ nguyên mới:
Thứ nhất, thể chế hiện nay là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” đối với phát triển; đột phá thể chế là “đột phá của đột phá”.
Thứ hai, phải từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” trong xây dựng pháp luật; đề cao phương pháp “quản lý theo kết quả”… và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, tạo không gian mới và động lực phát triển.
Thứ ba, luật pháp không chỉ để quản lý mà còn phải khuyến khích đổi mới, sáng tạo, thúc đẩy phát triển, tạo cơ hội và mở rộng không gian phát triển.
Thứ tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật… nhanh chóng khắc phục những chồng chéo, bất cập trong hệ thống hiện hành, tạo nền tảng pháp lý ổn định, dễ tuân thủ. Tinh thần là: một vấn đề, một nội dung chỉ quy định tại một luật; doanh nghiệp được tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm, còn cơ quan Nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.
Thứ năm, phân cấp mạnh, toàn diện cho địa phương theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Đề cao nguyên tắc thị trường trong huy động và phân bổ nguồn lực, đồng thời loại bỏ cơ chế “xin – cho” và tư duy bao cấp.
Không thể hạn chế quyền tự do kinh doanh của dân
Cần nhận thức rõ rằng các điều kiện kinh doanh, về bản chất, là rào cản hạn chế gia nhập thị trường. Càng có nhiều quy định về điều kiện kinh doanh thì càng lớn cản trở đối với cạnh tranh lành mạnh, đổi mới sáng tạo và phát triển, đặc biệt đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Khi số lượng quy định về điều kiện kinh doanh quá nhiều mà chất lượng lại thấp chính là biểu hiện rõ nét của tư duy “không quản được thì cấm”, tạo ra hệ thống pháp luật thiên về kiểm soát hơn là kiến tạo, tạo cơ hội và không gian phát triển.
Vì vậy, cần phải triệt để tháo bỏ những “điểm nghẽn” do các quy định về điều kiện kinh doanh các ngành nghề gây ra trong những Luật chuyên ngành để đảm bảo quyền tự do kinh doanh đã được hiến định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14, Hiến pháp 2013).
Rà soát tất cả các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh tương ứng trong Luật Đầu tư và pháp luật chuyên ngành. Chỉ giữ lại các ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi điều chỉnh theo khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013 và quản lý theo hình thức cấp giấy phép, giấy chứng nhận.
Thực hiện chương trình “cách mạng” về tinh giản quy định pháp luật, minh bạch hóa, số hóa và tự động hóa các quy trình, thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp và tổ chức khác. Chương trình này cần được triển khai trên nền tảng ứng dụng rộng rãi công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn…, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có môi trường kinh doanh thuộc nhóm dẫn đầu Đông Nam Á, với thể chế trở thành năng lực cạnh tranh vượt trội trong khu vực.
Theo Vietnamnet.vn
Pháp Luật
Chiêu trò trốn thuế từ Thu Hường đến Huấn Hoa Hồng, Phú Lê
Không xuất hóa đơn, để doanh thu ngoài sổ sách, tiền chuyển qua tài khoản cá nhân… là những chiêu trò nhằm giấu doanh thu, trốn thuế của một số đối tượng bán hàng trên mạng, từ Thu Hường đến Huấn Hoa Hồng, Phú Lê.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Ngọc Tú, chuyên gia thuế, cho rằng điểm chung trong các vụ án Bùi Xuân Huấn (biệt danh Huấn Hoa hồng), Nguyễn Thị Thu Hường hay Lê Văn Phú (Phú Lê) bị khởi tố là do không xuất đầy đủ hóa đơn giá trị gia tăng. Doanh thu không hạch toán đầy đủ vào sổ sách kế toán theo quy định, nhằm trốn thuế.
Trong vụ Phú Lê, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội xác định từ năm 2021 đến 2025, Công ty TNHH dịch vụ thương mại xuất nhập khẩu Thiên Phú của vợ chồng Phú Lê nhập hàng rồi bán ra thị trường nhưng không lập hóa đơn, kê khai thuế đầy đủ.
Hàng hóa đã bán nhưng trên sổ sách vẫn được ghi nhận là hàng tồn kho, tạo khoảng cách giữa lượng hàng thực tế đã bán và doanh thu được ghi nhận.
Với Huấn Hoa Hồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an bước đầu xác định vợ chồng Huấn kinh doanh nước hoa với tổng doanh thu hơn 300 tỉ đồng nhưng không xuất đầy đủ hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán. Vụ án vừa được khởi tố và đang điều tra.
Vụ Nguyễn Thị Thu Hường đã được xét xử. Theo hồ sơ vụ án, Hường kinh doanh hàng hiệu đã qua sử dụng như túi xách, đồng hồ, kim cương, quần áo và phụ kiện của các thương hiệu nổi tiếng.
Cơ quan tố tụng xác định từ năm 2020 đến khi bị phát hiện vào tháng 6-2025, Hường bán hàng hoàn toàn qua Facebook nhưng không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế và cũng không kê khai doanh thu.
Doanh thu được xác định gần 835 tỉ đồng với số tiền thuế trốn là 12,5 tỉ đồng.
Theo ông Lê Văn Tuấn – Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, một cách thức để che giấu doanh thu của một số doanh nghiệp là thực hiện hai sổ.
Theo đó, một sổ nội bộ để lưu trữ nội bộ tại doanh nghiệp, ghi nhận đầy đủ nghiệp vụ doanh thu và chi phí thực tế xảy ra của hoạt động kinh doanh.
Sổ còn lại để báo cáo với cơ quan thuế, không phản ánh đầy đủ hoạt động kinh doanh, có doanh thu và lợi nhuận thấp hơn sổ nội bộ.
Để che giấu doanh thu, trốn thuế, các đối tượng chuyển tiền bán hàng vào tài khoản cá nhân, hộ kinh doanh – Ảnh: AI tạo
Dòng tiền đi qua tài khoản cá nhân
Để giấu doanh thu, theo ông Tú, cách mà Thu Hường, Phú Lê… làm là chuyển tiền bán hàng vào tài khoản cá nhân thay vì tài khoản doanh nghiệp. Họ thành lập hệ sinh thái gồm nhiều doanh nghiệp do người thân đứng tên để chuyển tiền lòng vòng qua tài khoản cá nhân, hộ kinh doanh.
Như trong vụ Phú Lê, theo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội, hoạt động kinh doanh được tổ chức qua nhiều pháp nhân, gồm Công ty Thiên Phú, Công ty Thanh Quang Đăng và Công ty Thiên Phú Group.
Lã Thúy Kiều – vợ Phú Lê – nhiều lần thay đổi người đứng tên đại diện pháp luật các công ty, song hoạt động vẫn do Kiều và Phú trực tiếp chỉ đạo, điều hành.
Sau khi nhận tiền qua các tài khoản cá nhân, Kiều còn khai báo và nộp thuế dưới danh nghĩa hộ kinh doanh Lã Thúy Kiều.
Ngoài các tài khoản của công ty, vợ chồng Phú Lê đã sử dụng 10 tài khoản ngân hàng cá nhân để nhận tiền từ hoạt động kinh doanh, với tổng số tiền hơn 107 tỉ đồng mà không được hạch toán đầy đủ vào sổ sách công ty.
Với Nguyễn Thị Thu Hường, theo hồ sơ vụ án, Hường chuyển khoản thông qua tài khoản ngân hàng cá nhân và tài khoản đứng tên chồng.
Ông Lê Văn Tuấn cho rằng tình trạng này thường xảy ra khi doanh nghiệp bán hàng cho người tiêu dùng cá nhân thường không có nhu cầu lấy hóa đơn.
Thay vì nhận tiền vào doanh nghiệp, người bán yêu cầu khách chuyển tiền vào tài khoản cá nhân. Nếu khoản tiền bán hàng này không hoàn trả về doanh nghiệp để ghi nhận doanh thu và xuất hóa đơn, dòng tiền sẽ nằm ngoài hệ thống sổ sách của doanh nghiệp.
Theo ông Tú, khi hoạt động kinh doanh được phân tách qua nhiều pháp nhân, tài khoản và hộ kinh doanh, việc xác định doanh thu phải đối chiếu nhiều nguồn dữ liệu, thay vì chỉ dựa vào sổ sách của một doanh nghiệp.
Một thủ đoạn khác được cơ quan điều tra làm rõ trong vụ Phú Lê là lập hóa đơn khống.
Kiều bị cáo buộc chỉ đạo kế toán, nhân viên lập nhiều hóa đơn bán hàng khống để đối phó việc kiểm tra của cơ quan thuế.
Theo ông Tú, các mắt xích từ bán online, không xuất hóa đơn, để doanh thu ngoài sổ sách, tách dòng tiền qua tài khoản cá nhân đến lập hóa đơn khống có thể tạo thành một chuỗi, khiến việc xác định doanh thu thực tế phức tạp hơn, để trốn thuế. Hành vi của các đối tượng này không những làm thất thu ngân sách mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh.
Không còn dễ giấu doanh thu online
Theo Cục Thuế (Bộ Tài chính), ngành thuế đang từng bước triển khai quản lý thuế dựa trên phân tích dòng tiền, tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin với ngân hàng, trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển và các đơn vị liên quan.
Bà Lê Hoàng Oanh – Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) -cho biết theo Luật Thương mại điện tử có hiệu lực từ 1-7, người bán hàng trên nền tảng thương mại điện tử phải được xác thực, định danh.
Thông tin định danh được thống nhất với mã số thuế và số căn cước công dân. Người bán cũng phải sử dụng tài khoản thanh toán chính chủ của cá nhân, hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp để thực hiện giao dịch.
Dữ liệu người bán, người mua, giao dịch, thanh toán, logistics và hàng hóa được yêu cầu lưu trữ theo quy định, đồng thời tăng cường kết nối, chia sẻ với các cơ quan quản lý nhà nước.
“Dữ liệu là nền tảng quan trọng để giám sát thị trường, phát hiện vi phạm và xây dựng môi trường thương mại điện tử minh bạch”, bà Oanh nhấn mạnh.
Ver2Solution theo Tuổi Trẻ
Pháp Luật
Thưởng đến 10 triệu đồng cho người tố giác hành vi không xuất hóa đơn điện tử
Từ 1/7, người tiêu dùng tố giác hành vi không lập, không giao hóa đơn điện tử có thể được xem xét khen thưởng tối đa 10 triệu đồng.
Theo Nghị định 254, người tiêu dùng phát hiện và cung cấp thông tin về hành vi không lập, không giao hóa đơn điện tử khi mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có thể được xem xét khen thưởng nếu thông tin giúp cơ quan thuế xác minh và xử phạt vi phạm.
Người tố giác sẽ được khen thưởng khi đáp ứng đồng thời các điều kiện như cung cấp thông tin trung thực, chính xác, kịp thời; xác định được thời gian, địa điểm và đối tượng vi phạm; nội dung phản ánh đúng thực tế, đủ căn cứ để cơ quan thuế kiểm tra, xác minh và làm cơ sở ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Thông tin tố giác cần bao gồm thông tin về người bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ như tên, địa chỉ hoặc mã số thuế; kèm theo thông tin về giao dịch, hành vi không lập hoặc không giao hóa đơn điện tử, hoặc các tài liệu, chứng cứ liên quan (nếu có). Người tố giác cũng phải cung cấp thông tin liên hệ gồm họ tên, số điện thoại và số định danh cá nhân.
Người tiêu dùng có thể gửi thông tin phản ánh thông qua hệ thống hóa đơn điện tử hoặc Hệ thống thông tin quản lý thuế (như eTax Mobile), Cổng Dịch vụ công quốc gia, thư điện tử hoặc hệ thống tiếp nhận thông tin điện tử của cơ quan thuế, hoặc nộp trực tiếp tại cơ quan thuế, gửi bằng văn bản theo quy định.
Việc khen thưởng được thực hiện trên cơ sở kết quả xác minh của cơ quan thuế và quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Quá trình xét thưởng phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đồng thời bảo mật thông tin của người cung cấp thông tin.
Mỗi vụ việc chỉ được xem xét khen thưởng một lần. Trường hợp có nhiều người cùng cung cấp thông tin về một hành vi vi phạm, cơ quan thuế sẽ xem xét khen thưởng cho người cung cấp thông tin đầu tiên hoặc người có thông tin đầy đủ, có giá trị nhất theo xác nhận của cơ quan thuế.
Mức chi khen thưởng cho người tiêu dùng cung cấp thông tin phản ánh hành vi không lập và không giao hóa đơn điện tử đối với mỗi vụ việc tối đa bằng 10% số tiền xử phạt vi phạm hành chính, nhưng không vượt quá 10 triệu đồng/vụ việc. Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ quy định cụ thể về mức thưởng, hình thức, trình tự, thủ tục khen thưởng cũng như việc quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện.
Pháp Luật
Trẻ em phải được phụ huynh đứng tên đăng ký mạng xã hội từ ngày 1.7
Môi trường số dành cho trẻ em tại Việt Nam chuẩn bị có bước ngoặt lớn về phương thức quản lý. Theo luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 1.7.2026, việc thiết lập tài khoản mạng xã hội hay bất kỳ dịch vụ trực tuyến nào cho trẻ em đều phải thực hiện bằng thông tin của cha mẹ hoặc người giám hộ.
Quy định này cụ thể hóa trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư và các quyền hợp pháp của trẻ em trên không gian mạng. Cơ chế cũng đồng bộ với các bước đi pháp lý trước đó của Chính phủ. Điển hình là Nghị định 147/2024/NĐ-CP đã quy định người sử dụng mạng xã hội dưới 16 tuổi, tài khoản bắt buộc phải liên kết với thông tin định danh của người giám hộ, bao gồm: họ và tên, ngày tháng năm sinh, số điện thoại di động tại Việt Nam (hoặc số định danh cá nhân).
Bên cạnh vai trò của gia đình, áp lực kỹ thuật và pháp lý cũng được dịch chuyển mạnh mẽ sang phía các doanh nghiệp công nghệ. Các chủ quản hệ thống thông tin, đơn vị cung cấp dịch vụ internet và mạng viễn thông có nghĩa vụ chủ động kiểm soát nội dung để ngăn chặn mọi nguy cơ gây hại cho trẻ.
Cụ thể, Khoản 3, Điều 16 của luật An ninh mạng quy định chủ quản hệ thống thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet, các dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng có các trách nhiệm kiểm soát nội dung thông tin trên hệ thống thông tin hoặc trên dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp để không gây nguy hại cho trẻ em hoặc xâm hại trẻ em hoặc xâm phạm quyền trẻ em; Ngăn chặn việc chia sẻ và xóa bỏ thông tin có nội dung gây nguy hại cho trẻ em hoặc xâm hại trẻ em hoặc xâm phạm quyền trẻ em.
Các đơn vị này cũng phải xây dựng, triển khai hệ thống kỹ thuật hỗ trợ hoạt động ngăn chặn nội dung xâm hại trẻ em trên không gian mạng, đồng thời phối hợp với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện ngăn chặn nguồn phát tán thông tin xâm hại trẻ em trên không gian mạng. Nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm thông báo, phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an để xử lý khi xảy ra vấn đề liên quan.
Ver2Solution theo Thanh Niên
-
Social2 năm agoReview 5 nền tảng xem video ngắn: YouTube Short, Facebook Reels, LinkedIn, X, Instagram
-
Social2 năm agoDouyin, Wechat, Weibo bất ngờ cho phép người dùng quốc tế đăng ký tài khoản
-
Trong Nước1 năm agoBáo cáo thị trường nước hoa Việt Nam 2023-2025
-
Livestream2 năm agoBáo cáo xu hướng thị trường kinh doanh livestream tại Việt Nam trong năm 2024
-
Social2 năm agoFacebook công bố chi tiết nguyên tắc phân phối nội dung, chỉ rõ loại nội dung nào sẽ bị hạ bậc, hạn chế hiển thị trên bảng tin
-
Thị Trường2 năm agoXu hướng năm 2025 có gì?
-
Social1 năm agoCập nhật Facebook 7 ngày qua (01-09/03/2025)
-
Social2 năm agoChuyên gia Mỹ: TikTok gây tác hại nghiêm trọng đối với trẻ em hơn Douyin


